Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 LÃO TỬ TINH HOA

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Sat Jul 19, 2014 6:17 pm

TRI TÚC – TRI CHỈ
知足 - 知止
Hai chữ “tri chỉ, tri túc” là then chốt đạo xử thể của Lão Tử. Mà cũng là vấn đề khó khăn nhất.  Biết dừng  thì còn tương đối dễ... chứ  “biết đủ”  thì phải lấy tiêu chuẩn nào mà quy
định? Nghĩa là biết đến đâu là “đủ” để mà “ngừng” lại cho kịp thời, cho vừa lúc?
_________________
78.Xem chương nói về Tam Bửu (bất cảm vi thiên hạ tiên).
79.La Conquête de la Sience: Pierre Rousseau (Lib. Arthème Fayard. Collection “Savoir”, p.307)
 
Ta nên để ý đến chủ trương của Lão Tử là Đạo  道. Đạo là gì? Theo Lão Tử: Đạo, tức là cái luật  Quân bình  (天均) 80
của Vũ trụ, chi phối cả Vạn  vật, không cho ta có quyền làm
một cái gì thái quá. Đạo, chủ trương và bao trùm vạn vật, luôn luôn có mặt trong tất cả mọi sự vạn vật. Nó có phận sự điều chỉnh lại những cái  gì thái quá, vượt mực trung. Hễ “cao thì ép xuống, thấp thì nâng lên, dư thì bớt đi, hụt thì bù vào” 81,đặng mà  lập lại cái thế quân bình, không cho thiên hẳn về  một bên nào cả của cái đòn cân  thị phi, thiện ác...
Ông nói: “Thiên chi đạo, tổn hữu dư, bổ bất túc” (天之道損有餘而補不足) Đạo trời thì bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu.
Trong đạo xử thế, quan trọng nhất là vấn đề thị phi, thiện ác. Sao là phải, sao là quấy, sao là lành, sao là dữ? Lão Tử cho rằng:  “Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi. Đều
biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi. Bởi vậy, Có và Không cùng sanh. Khó và Dễ cùng thành. Ngắn và Dài cùng sánh. Cao và Thấp cùng chiều. Giọng và Tiếng cùng họa. Trước và Sau cùng theo” (chương 11).
Rồi ông lại nói:  “Phản giả, Đạo chi Động”  (反者,道之動). Cái động của  Đạo là  phản biến:  cái Phải biến thành cái Quấy, cái Lành biến thành cái Dữ, cái Vinh biến thành cái Nhục... Héraclite 82 cũng nói:  “C’est la même chose qui habite en nous: la vie et la mort, la veille et le sommeil, la jeunesse et la vieilesse. Ces derniers, en se transformant deviennent les premiers, et les  premiers, en se tranformant de nouveau, deviennent les derniers”  (cũng chỉ là  một sự vật ở nơi ta: sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Những cái sau này, khi biến động lại trở thành những cái trước kia, và những cái trước kia khi phản biến lại trở thành những cái sau này”. Ông lại nói: “Le froid devient chaud, le chaud froid, l’humide sec, le sec humide”  (Lạnh trở thành nóng, nóng trở thành lạnh, ướt trở
thành khô, khô trở thành ướt”, tức là chỗ mà Kinh Dịch bảo: “vật cực tắc phản, vật cùng tắc biến”, nhưng hễ biến thì biến thành cái mâu thuẫn của nó. Tức là hễ “dương cực” thì “âm sinh”, “âm cực” thì “dương sinh”. Như trong Dịch Kinh đã nói, đó là cái luật bất di bất dịch của Tự nhiên, của Đạo.
Thật vậy, tùy trường hợp riêng biệt của mỗi người, ta thường thấy  một  chất thuốc,  với một độ nào, nó là thuốc bổ, mà với một độ nào, nó sẽ thành thuốc độc. Việc đời cũng thế, cái mà ta gọi là phải, chỉ có thể phải ở một mực độ nào, trong những trường hợp nào. Chứ không phải nó luôn luôn là phải, bất cứ ở trường hợp nào. Như việc ăn, tự nó không phải mà cũng không  quấy. Khi đói, thì  ăn  là  phải, nhưng cũng chỉ  phải  ở một mực độ nào, ở những trường hợp nào mà thôi. Nếu ăn quá độ, hay ăn không phải lúc, thì không thể còn gọi là  “phải”  được nữa. Cho nên, làm cái Phải nào, hoặc theo một cái Phải nào, cần phải xem xét trước cái lúc mà cái Phải ấy, vượt mực Trung biến thành cái Quấy. Tức là phải biết xem xét coi cái Phải ấy nên  dừng  nơi đâu…  để nó đừng vượt mực Trung để biến thành cái Quấy. Đó là  “biết dừng lại”  “tri  chỉ” (知止)  vì đã biết rõ đến đâu là  đủ...  “tri túc” (知足).
________________
80.“Thiên quân”. (Goldfish).
81.“Cao giả ức chi, hạ giả cử chi, hữu dư giả tổn chi, bất túc giả bổ chi” (Ch.77) 高者抑之, 下者擧之.
有餘者損之, 不足者補之.
82.Héraclite: Triết gia Hy Lạp, sinh ở Ephèse 576 (540?) và mất khoảng 480 trước Tây lịch kỷ nguyên.
 
Chương 44 Lão Tử nói: “Danh dữ thân thục thân, thân dữ hóa thục da; đắc dữ vong thục bệnh? Thị cố thậm ái tất thậm phí, đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi...
khả dĩ trường cửu”  (Danh và Thân, cái nào quý  hơn? Thân và Của, cái nào trọng hơn?
Đặng và Mất, cái nào khổ hơn? Vậy nên, thương nhiều ắt tổn nhiều, chứa nhiều ắt mất nhiều. Biết đủ, không nhục. Biết dừng không nguy, và có thể lâu dài)  (名與身孰親?
身與貨孰多?  得與亡孰病?  是故甚愛必大費,  多藏必厚亡.  知足不辱,  知止不殆, 可以長久).
Qua chương 46 ông nói thêm: “Họa mạc đại ư bất tri túc, cữu mạc đại ư dục đắc. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ”  (禍莫大於不知足,  咎莫大於欲得.  故知足之足,  常足矣)
Không họa nào lớn bằng không biết đủ, không hại nào to bằng muốn đặng. Bởi vậy, biết đủ trong cái đủ, mới luôn luôn đủ.
Nên để ý nhất câu  “tri túc chi túc”  (知足之足):  biết đủ và biết dừng  知止  lại nơi đó, đó là tất cả sự khôn ngoan sáng suốt của con người 83.
Có kẻ cho rằng câu này của Lão Tử làm ngăn cản bước  “tiến bộ” của loài người, nhưng thực sự nó là câu châm ngôn vàng ngọc để  “lánh nguy cầu an”  và mưu  được hạnh phúc cho cá nhân cũng như đoàn thể, tránh cho con người tất cả tội ác do lòng tham muốn đèo bòng vô tận xui ta làm con thiêu thân cho vị thần Tiến Bộ và lòng tham dục vô bờ bến của con người.
Thái quá cũng như bất cập, đều không hay cả. Nhưng theo Lão Tử, thì thà bất cập hơn là thái quá, vì thái quá bao giờ cũng nguy hiểm. Bất cập thì sẽ còn phát triển mạnh thêm và gây nhiều hứng thú, còn thái quá thì là dọn đường cho sự phản biến ngược với kết quả mình mong muốn: “Tương dục phế chi, tất cố hưng chi” 將欲歙之, 必固張之 (Ch.36).
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Sun Jul 20, 2014 3:49 pm

BẤT TRANH
不争
Cũng như phần đông người ta đã ngộ nhận  hai  chữ  Vô vi  無為  là không làm gì cả, phần đông cũng lại ngộ nhận hai chữ “Bất Tranh” 不争, và cho là không tranh đấu hay không dám tranh đấu, nghĩa là yếu hèn, nhút nhát. Thậm chí Ngô Tất Tố và Nguyễn Đức Tịnh,
_______________
83.Tri túc chi túc (知足之足): Biết đủ trong cái đủ của mình, nghĩa là gì? Thử lấy việc ăn làm thí dụ: Một đứa con trẻ 3 tuổi, món ăn đủ cho sức khoẻ của nó không giống như món ăn cần thiết cho đứa trẻ lên bảy hay lên mười – Lại nữa khi mạnh thì ăn khác, khi đau thì ăn khác, số lượng vừa đủ cho nó thay đổi luôn luôn tuỳ hoàn cảnh. Một người lớn, trái lại, nếu lại cho ăn như đứa trẻ lên ba thì không thể được: cái đủ của mỗi người khác nhau.
 
trong quyển  “Lão  Tử”  của các ông, còn viết:  “Người ta không thể hiểu rằng: không tranh với quân địch thì làm sao thắng với quân địch?” 84.Nói thế là không hiểu gì về cái đạo Bất Tranh của Lão Tử, lại cũng không hiểu gì cả về binh pháp.
Chương 68, ông nói: “Thiện vi sĩ giả bất vũ, thiện chiến giả bất nộ, thiện thắng  địch giả bất dữ. Thiện dụng nhơn giả vi chi hạ, thị vị Bất Tranh chi đức…”  (善為士者不武, 善戰者不怒,  善勝敵者不與,  善用人者為之下. 是謂不爭之徳…) “Người tướng giỏi không dùng vũ lực, người chiến đấu giỏi không giận dữ, khéo thắng địch là không tranh với đó. Khéo dùng người là hạ mình giúp đó, đó là cái đức của sự không tranh).
Đây là chủ trương  Vô  vi, trong phép tranh đấu. Nên để ý đến chữ  “thiện”  善  của ông dùng:  “Thiện”  善  đây, tức là sự khéo léo, tài giỏi... Bậc tướng tài giỏi tranh đấu mà không cần phải dùng đến vũ lực, bạo động…  Người chiến đấu tài giỏi là không cần dùng đến sự tranh đấu mà thắng địch... Trần Trụ trong quyển  “Lão Tử dữ Trang Tử”  nói: “Thiện vi sĩ giả, kỳ  thực dã, bất vũ giả kỳ  mạo dã; thiện chiến giả kỳ  thực dã, bất nộ giả kỳ  mạo dã; thiện thắng địch giả kỳ  thực dã, bất dữ giả kỳ  mạo dã”  (善為士者其實也, 不武者其貌也, 善戰者其實也,  不怒者其貌也;  善勝敵者其實也, 不與其貌也).  Câu trên của Lão Tử có thể giải thích như vầy: “Kẻ làm tướng mà tài giỏi  thì không phải dùng đến vũ lực... Tài giỏi đó là thực, không dùng đến vũ lực, đó là cái bề ngoài của nó. “Thiện chiến”  là thực, mà  điềm đạm không tỏ sắc giận  đó là cái dáng bên ngoài.  “Thắng thật khéo”  bên địch là thực, còn  không cùng tranh với địch, đó là cái dáng bên ngoài...  Như vậy, ta thấy rằng Lão Tử, tuy đề xướng chủ nghĩa bất tranh, nhưng với  hai  chữ  “thiện thắng”  đủ cho ta biết rằng chữ  “bất tranh”  chỉ là phương pháp đấu chiến, mà  “thiện
thắng” mới thật là mục đích.
Câu  “Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”. (夫唯不爭,  故天下莫能與之爭) (Ch.22):  chỉ vì không tranh, nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình, đủ minh chứng rằng người tướng giỏi đâu phải là người dùng đến vũ lực để đánh
người trước. Kẻ khéo nhất trong sự thắng kẻ địch là không cần tranh với họ mà vẫn thắng họ một cách dễ dàng...  Đó là phương pháp dùng “nhu”  mà thắng “cương”, dùng  “nhược”
mà thắng cường,  những nguyên tắc chánh trong phép dùng nhu thuật. Rõ rệt nhất là ở chương 69 ông nói: “Dụng binh hữu ngôn, ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách, bất cảm tiến thốn nhi thối xích.Thị vị hành vô hành, nhương vô tí, chấp vô binh, nhưng vô địch. Họa mạc đại ư khinh địch, khinh địch cư táng ngô bửu. Cố kháng binh tương gia, ai giả thắng hĩ”  (Dụng binh có câu: Thà làm khách hơn làm chủ, thà thối  một bước hơn tiến một tấc.
Đó gọi là bước mà không đi tới, nhượng mà không xăn tay, bắt giặc mà không đối địch, cầm giữ mà không binh khí. Không họa nào lớn bằng khinh địch. Khinh địch thì mất của
báu. Nên  hai  bên giao binh kẻ nhường là thắng).  Phải chăng ai đã từng thao luyện theo nhu thuật  (Jiu-Juisu)  hay nhu đạo  (Judo)  đều nhìn thấy đây là những nguyên tắc chánh của môn vũ thuật ấy. Công dụng của cái “Hư” 虚, cái “Không” trong binh pháp đâu phải là nhỏ và tầm thường.
______________
84.Trang 119: Lão Tử của Ngô Tất Tố và Nguyễn Đức Tịnh soạn, Mai Lĩnh xb.
 
Tôn Tử nói: “Bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã, bất chiến nhi khuất nhơn chi binh, thiện chi thiện giả dã”  (百戰百勝,  非善之善者也,  不戰而屈人之兵, 善之善者也): Trăm trận đánh, trăm trận được, chưa phải là người giỏi trong những người giỏi. Không đánh mà làm khuất phục được quân của người, ấy mới  là người giỏi trong những người giỏi 85.  Phải chăng cũng cùng  một ý với Lão Tử trong câu:  “Thiện vi sĩ giả bất vũ, thiện thắng địch giả bất dữ...”  (Người tướng giỏi không dùng đến vũ lực... người khéo thắng được địch là không cùng tranh với đó). Bởi vậy,  “bất  tranh”  của Lão Tử là
phép cầm quân cao nhất... trong binh pháp, mà cũng là phép xử thế cao nhất trong đạo trị nước.
Phép  “đề kháng bất bạo động”  của Gandhi đã làm khuynh đảo  một đế quốc mạnh nhất của Âu Tây không đủ là  một kinh nghiệm cụ thể của phương  pháp  “bất tranh nhi thiện thắng”  của Lão Tử ư? Đó cũng là phép dùng  “nhu nhược thắng cương cường”  mà ông thường khuyên ta vậy.
*
* *
Thuyết  “Bất  tranh”  lại còn  một nghĩa nữa về Chánh trị là  “dĩ kỳ  bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”86.Là nghĩa làm sao? Chương 66, ông nói: “dục thượng dân tất dĩ ngôn hạ chi, dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi. Thị dĩ thánh nhân xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất hại. Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm. Dĩ kỳ  bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”  欲上民必以言下之,  欲先民,  必以身後之.  是以聖人處上而民不重, 處前而民不害.  是以天下樂推而不厭.  以其不爭,  故天下莫能與之爭.  (Muốn ngồi trên dân, hẳn nên lấy lời nhỏ nhẹ mà hạ mình;  muốn đứng trước dân, hẳn nên lấy mình để ra sau.  Vậy nên Thánh Nhân ở trên mà dân không hay nặng, ở trước mà dân không thấy bị khuất. Và nhờ thế mà thiên hạ không chán, lại còn đẩy tới trước. Là bởi đó không tranh, nên thiên hạ không cùng tranh với đó được). Bậc Thánh Nhân trị nước, ngồi trên đầu dân mà dân không hay có mình ngồi trên đầu, dẫn đạo dân mà dân không cảm thấy bàn tay của mình dắt dẫn. Bởi vậy, người dân không chán, lại còn đẩy tới trước. Bởi đó không
tranh, nên thiên hạ không cùng tranh với đó được.
Thật vậy, bậc Thánh Nhân trị nước, ngồi trên đầu dân mà dân không hay có mình ngồi trên đầu, dẫn đạo dân mà dân không cảm thấy bàn tay mình dắt dẫn. Bởi vậy, người dân không chán lại đưa đẩy lên ngôi cao...  Là vì Thánh Nhân trị nước bằng đạo Vô Vi. Luôn luôn đứng dưới thấp, ở đàng sau thì người dân còn chỗ nào để cùng tranh chấp, bởi vậy “vì không tranh nên thiên hạ không sao cùng tranh vời họ được”.
Trị nước bằng đạo “hữu vi”  lại không phải thế: “thường hay can thiệp đến việc dân  một cách qúa rõ ràng, nên người dân cảm thấy là bị trị. Do đó mới có sanh ra tâm trạng chống đối, và nhân thế bậc trị nước phải lo đề  phòng để củng cố uy quyền bằng pháp lệ bủa giăng...
______________
85.Tôn Tử Binh Pháp (孫子兵法): Mưu Công thiên 謀攻篇
86.Xem lại chương 22: “Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”.
 
Giữa cấp thống trị và bị trị đã có chỗ tranh nhau, thì trước sau sẽ có kẻ thắng người bại. Ngày mà người dân cảm thấy sức nặng của người trên  đè xuống, cảm thấy cái bàn tay  dẫn  dắt  chỉ đạo quá gắt gao còng giữ, họ sẽ đâm chán, mong vứt quăng gánh nặng, vượt khỏi cái bàn tay sắt buộc ràng...  Dùng cái đạo  hữu  vi  mà trị nước là tạo cho nhân dân có chỗ cùng tranh với ta... là nguy vậy.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Wed Jul 23, 2014 12:14 pm

NHU NHƯỢC
柔弱
Thuyết  Nhu Nhược  của Lão Tử là thuyết bị người  đời hiểu lầm nhất, như thuyết  Bất Tranh của ông vậy.
Thật sự Nhu Nhược là gì?
Ở chương 76, ông nói rõ nhất: “Nhân chi sinh dã nhu nhược,  kỳ  tử giả kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thúy, kỳ  tử dã khô kháo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ; nhu nhược giả, sinh cho đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng; mộc cường tắc chiết. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng”87
(Người khi mới sinh, thì mềm yếu, mà khi chết thì cứng và mạnh. Vạn vật cây cỏ, mới sinh thì mềm dịu, mà khi chết thì khô héo. Nên cứng và  mạnh, là bạn của chết. Mềm và yếu là bạn của sống. Vậy, binh mạnh thì không thắng, cây mạnh thì ắt gẫy. Cứng và mạnh, ở bậc dưới; mềm và yếu, ở bực trên)
Trong đoạn văn trên đây,  hai  chữ  nhu  nhược  quả có  một triết lý sâu xa, chứ không phải có cái nghĩa thiển cận như thông thường người ta đã hiểu. Lấy thí dụ một cái cây, cành lá
mềm dịu là chứng sự đang sức sinh hóa; còn sự khô cứng là triệu chứng của sự cằn cỗi, chết chóc, không còn biến động gì được nữa.
Như thế nhu nhược  có nghĩa là uyển chuyển, không  cố chấp trong một hình thức cố định nào, dù thuộc về tâm lý, tình cảm hay tư tưởng.  Tâm hồn con người Giải  thoát phải biết luôn luôn thay đổi, biến hóa, vô cùng uyển chuyển để theo kịp với nhịp sống của cuộc Đại Hóa trong Trời Đất. Nếu bị hạn định trong một hình thức cứng rắn nào, thì đó là triệu chứng của sự khô cứng và chết chóc.  Bởi vậy, người theo  đạo Giải thoát rất sợ lối tư tưởng theo thành kiến, theo thói quen, theo tập niệm, thường nô lệ theo  một bảng giá trị bất cứ thuộc về một hệ thống tư tưởng, đạo đức, luân lý hay tôn giáo nào.
Mỗi một “thói quen”  là  một thứ ngưng đọng, không còn biến đổi... nghĩa là đã trở thành máy móc... Và như vậy, ta có thể quả quyết rằng: Không có một “thói quen”  nào là hay . Suy nghĩ theo thói quen, yêu thương vì thói quen, hành động theo tập quán, đó là những trở ngại lớn nhất trong con đường Giải thoát. 
___________
87.人之生也柔弱, 其死也堅強. 萬物草木之生也柔脆, 其死也枯稿. 故堅強者, 死之徒; 柔弱者, 生之徒.
是以兵強則不勝, 木強則折. 故堅強處下, 柔弱處上.
 
cả đối với tư tưởng 88
 
Cho nên kẻ muốn đi đến Giải thoát, bước đầu tiên là tự mình phá hủy tất cả mọi thành kiến bất cứ thuộc về giới nào. “Kiên cường giả tử chi đồ, như nhược giả sinh chi đồ”.
Người Giải thoát “như con Rồng”, biến hóa, ẩn hiện, không biết sao mà lượng trước được phản ứng của họ. Bậc thường nhân phản ứng rất hạn định chỉ có  một chiều thôi, như một
bộ máy... Những kẻ mà đời sống tinh thần bị gò bó, lệ thuộc trong  một hệ thống luân lý hay tư tưởng nào sẽ là những kẻ có một phản ứng thô sơ và nhất định mà bất cứ ai có óc quan sát đều có thể biết trước được. Một ông luật sư đứng ra biện hộ cho ai, bao giờ cũng tìm đủ cách để chứng minh rằng thân chủ mình là vô tội. Một nhà Nho hủ lậu bao giờ cũng có những phản ứng một chiều và hẹp hòi câu chấp, luôn luôn sẽ có những phản ứng một chiều với những ai phạm vào những điều cấm kỵ của giáo điều Nho giáo.  Cũng như nhà duy vật sẽ không bao giờ chịu hiểu những gì không ăn  khớp với những lý thuyết của họ như lý thuyết “giai cấp đấu tranh” chẳng hạn. Sự phản ứng đối với cuộc đời sẽ không bao giờ giống với những phản ứng  một  cách máy móc của các chất hóa học đã được
người ta khám phá và quy  định trong những công thức không bao  giờ thay đổi. Bởi vậy, người theo đạo Giải thoát của Lão Trang chắc chắn sẽ không bao giờ là tín đồ trung thành của  một tôn giáo,  một triết thuyết, hay là chiến sĩ cuồng nhiệt của  một chủ nghĩa chánh trị, xã hội hay luân lý nào cả.
Đó là cái huyền nghĩa của hai chữ nhu nhược.
*
* *
Nhu nhược  lại cũng có cái nghĩa là thuận theo, chiều theo, không cưỡng lại... tức là cái thuật  “Bất tranh nhi thiện thắng”
89 dùng  “nhu nhược thắng cương cường”90.  Không chống cự, tức là không tạo cho bên địch có cơ hội để  tranh đấu:  “phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”  (夫唯不爭故天下莫能與之爭)  (Chương 22). Như thế “nhu nhược”  đây có nghĩa là một phương pháp tranh đấu:  đó là phép lấy hư mà trị thực,
một phương thuật già dặn nhất trong phép tranh đấu của nhu đạo (Judo) ngày nay.
Cho nên mới có chỗ ông bảo:  “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh”91 (Bậc  “thượng thiện”  giống như nước, nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh). Tánh của nước, thì yếu mềm; gặp chỗ trống, thiếu thì chảy vào;  gặp chỗ đầy dư thì chảy ra. Lánh cao mà tìm thấp, ngày đêm chảy mãi mà không ngừng. Đó là nó thực hiện cái luật quân bình của Trời Đất Nước, luôn luôn chiều theo mà không kháng cự. Bị cản thì dừng, mở đường thì chảy, ống thẳng bầu tròn, nhưng không mất bản chất.
________________
88,Chaque habitude est un limitation de mouvement, et de ce point de vue, il n’y a pas de bonnes habitudes.  (ZEN Euddhism. C. Humphreys).
89.不争而善勝 (Xem lại mục bàn về Bất Tranh)
90.柔弱勝剛強 (Chương 36)
91,水善利萬物而不爭
 
Tóm lại, chương 40 có viết: “Nhược giả, Đạo chi dụng”  (弱者道之用).  Yếu mềm là cái dụng của Đạo... Nhược đây là biết chiều theo, không chống lại... không dùng ý chí mà cưỡng lại với Đạo, như người thợ lặn giỏi không cưỡng lại với nước nên không hay là có nước. Câu  “yếu mềm là cái dụng của Đạo”, ta phải hiểu yếu mềm đây, là phương pháp để trở về với Đạo.
Bởi người ta thường sống thích đua đòi theo kẻ khác, chỉ tìm cách để bắt chước kẻ khác,
sống theo cái sống của kẻ khác, sống theo những ước lệ giả tạo bên ngoài... mà không sống theo cái Chân  tánh của mình cho nên mới có dùng đến Ý  chí, tức là cố cưỡng ép mình để trở thành những gì không phải là mình. Nếu biết sống theo mình, theo cái Chân Diện Mục của mình thì sao lại phải còn dùng đến Ý chí. Nên mới gọi  là Vô Vi, vì đã huyền đồng cùng Bản Tánh.
Đó là cái nghĩa thứ hai của Nhu Nhược, đồng với Vô Vi, mà phương tiện là Bất Tranh.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Thu Jul 24, 2014 4:29 pm

BẤT NGÔN CHI GIÁO
不言之敎
Chương 2, sách Lão Tử có câu: “Xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo”  處無為之事, 行不言之教 (dùng vô vi mà xử sự, dùng phương pháp không lời mà dạy dỗ) (Ch.2).
Chương 43 lại nói thêm: “Bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi”  Dạy bảo mà không cần đến lới nói, sự lợi ích của vô vi, trong thiên hạ ít ai theo kịp  (不言之敎, 無為之益, 天下希及之).
Dạy bảo mà không dùng đến lời nói... Là nghĩa gì? Như trước đây,  ở chương bàn về sự “học”, Lão Tử khuyên ta đừng học cái trục vật, vụn vặt, phiền phức bên ngoài.
Chương 20, ông nói: “tuyệt học vô ưu”  絕學無憂, đến chương 64 ông lại bảo:  “học bất học” 學不學. Hãy học cái “không thể học được” là Đạo. Mà Đạo, thì không thể dùng lời
nói mà miêu tả được: “Đạo khả đạo, phi thường Đạo, Danh khả danh phi thường Danh” 道可道, 非常道; 名可名, 非常名  (Đạo mà nói được, không phải là cái thường của Đạo.
Danh mà ta có thể gọi được, không còn phải là Danh thường nữa).  Vì vậy, ông mới không dùng đến lời nói để mà dạy. Ông lại cũng có nói:  “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” 92
(知者不言,  言者不知) (Ch.56), cũng đều là chỉ về cái học về Đạo cả. Sở dĩ phải dùng đến lời là  một  sự miễn cưỡng rồi vậy. Đạo  học là  một  cái học  tâm truyền  tâm,
___________________
92.“Kẻ biết không nói, người nói không biết” (Ch.56)
 
không có thể nào dùng lời mà hình dung được, chỉ có thể cảm thông mà thôi. Đó là nghĩa thứ nhất của “bất ngôn chi giáo”.
*
* *
Cái học của Lão Tử thuộc về Tâm học, tuy không thể lấy lời nói mà miêu tả được, nhưng cũng có khi dùng lời nói để khêu gợi được... Dùng lời để mà khêu gợi mà thôi, chứ thực ra, trong đời không ai dạy ai được, nếu tự mình không tìm kiếm ra, cho nên cũng gọi là “bất ngôn chi giáo”, đó là nghĩa thứ hai.
Chương 57, Lão Tử bảo: “Ngã vô vi nhi  dân tự hóa” (我無為而民自化).  Ta không làm mà dân tự  hoá. Bậc trị nước, không cần bắt buộc dạy bảo, cần lấy gương vô tư, vô dục của mình mà dạy dân, dùng  “bất ngôn chi giáo” mà sửa dân... thì dân không có hay là mình có làm gì, nhưng tự chúng sửa đổi lấy mình mà không cần đến sự bắt buộc hay cấm đoán, ban hành pháp lệnh. Ông lại nói:  “Ngã hiếu tịnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nhi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác”  (我好靜而民自正,  我無事而民自富, 我無欲而民自樸).  Ta ưa tịnh mà dân tự chính, ta  “vô sự”  mà dân tự giàu, ta không dục vọng mà dân trở thành chất phác. Đó đều là phép “bất ngôn chi giáo” của ông cả. Về sau Trang Tử trong thiên “Đức sung phù” giải rất rõ cái phép  “bất ngôn chi giáo”  ấy:  “Đức
sung ư nội, nhi nhơn hóa ư ngoại, tự nhiên cảm hóa bất đãi giáo ngôn giả dã” (德充於內, 而人化於外,自然感化不待敎言者也) 93.  Nghĩa là: “Đức mà đầy đủ nơi trong, thì người ở ngoài được hóa, tự nhiên được cảm hóa, không cần phải dùng đến lời mà dạy”. Đây là nghĩa thứ 3 của nó.
*
* *
Chương 5, ông nói:  “Đa ngôn sổ cùng, bất như thủ trung”  (多言數窮,  不如守中)  Nói nhiều bao nhiêu cũng không sao nói hết được, thà là giữ lấy mực trung. Là tại sao? Đạo, là nguyên lý  Quân bình. Việc đời có gì lạ ngoài  thị  phi,  thiện  ác... Nếu bảo đây là  phải, thì lại sợ rằng thiên hạ quá thiên về đó mà đi quá trớn, trở thành cái  quấy. Lạ gì thói đời, làm gì cũng thái quá!  Cái bệnh câu chấp ấy là thông bệnh của con người. Thà là giữ lấy mực Trung, ít nói chừng nào hay chừng nấy:  “Hi ngôn tự nhiên”  (希言,  自然)  (chương 23).
Thị  phi,  thiện  ác,  vinh  nhục,  lợi  hại chỉ là bề mặt bề trái của  mọi sự vật trên đời, thì lợi cho đây chưa ắt cũng còn là lợi cho kia, phải cho đây chưa ắt cũng còn là phải cho kia...
Cho nên kẻ đạt Đạo không ham biện bạch gì với ai cả: sự hiểu biết do trình độ mà có cao có thấp.  Đồng với ta cho ta là phải, không đồng với ta cho ta là quấy. Sự phải quấy trong đời bất quá chỉ có bấy nhiêu thôi. Cho nên mới có câu:  “Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện” (善者不辯, 辯者不善) (Chương 81) Người “thiện” không tranh biện, người tranh biện không “thiện”. Chữ “thiện” 善 đây, có nghĩa là người sành về Đạo, chứ không phải ám chỉ người  lành đối với kẻ  dữ, theo cái nghĩa thông thường về luân lý.
___________
93.Cả câu này, trong thiên Đức sung phù, tôi chỉ thấy có bốn chữ đầu: “Đức sung ư nội”  德充於內. (Goldfish).
 
Chương 2 nói rất rõ ràng lẽ ấy:  “Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ. Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ. Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy. Thị dĩ thánh nhân, xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo”  (天下皆知美之為美,  斯惡已;  皆知善之為善,  斯不善已.
故有無相生,  難易相成,  長短相形,  高下相傾,  音聲相和,  前後相隨.
是以聖人處無為之事,  行不言之教)  Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi;  đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi. Bởi vậy, có và không sanh nhau,  khó và dễ cùng thành,  ngắn và dài cùng sanh,  cao và thấp cùng chiều,  giọng và tiếng cùng hòa, trước và sau cùng theo. Vậy nên Thánh nhân dùng Vô Vi mà xử sự, dùng  “bất ngôn”  mà dạy dỗ, không phải là không nói, mà không nói đến Thị Phi, Thiện Ác, bởi nói Thị thì Phi dấy lên, nói Thiện thì Ác dấy lên.
Thực ra, nếu có thể dạy được điều gì, thì chắc chắn ông sẽ không bỏ lỡ cơ hội để chỉ dạy.
Ông nói:  “Nhơn chi sở giáo, ngã diệc giáo chi”  (人之所敎,  我亦敎之).  Chỗ mà người xưa dậy được, ta nay cũng dạy...  (Ch.42). Dạy cái gì? Dạy những chân lý thông thường mà không cần minh chứng như câu “dùng bạo động, chết bạo tàn”  (強梁者不得其死) 94 v.v…
Huống chi lời  dạy khéo, là lời dạy mà người thụ giáo không hay là được thụ giáo, mà người dạy cũng không dè là mình đã dậy. Đó là dạy  một  cách khéo léo, kín đáo chứ không vinh váo ra mặt thầy đời. Những lời dạy như thế mới là có nhiều kết quả nhất, đó là hành dộng  Vô Vi, đó là  “bất ngôn chi giáo”.  “Thiện hành vô triệt tích, thiện ngôn vô hà trích...”  (善行無轍跡,  善言無瑕謫) Đi khéo không để lại dấu chân, nói khéo không để lỗi lầm...  (Ch.27). Một việc làm được gọi là hoàn toàn khi nào làm mà không ai nhận thấy dấu vết của việc làm. Đó là  “Vô  vi nhi  vô bất  vi”  (無為而無不為),  không làm, nhưng không có gì mà không làm.  Bậc đạt Đạo, dạy người mà không ai dè là được dạy, người dạy không cho mình có dạy mà cậy công, người được dạy không hay là mình được dậy mà ghi ân, nên không có sự bội ân.
Lại nữa, sự hiểu biết của ta phải tự ta tìm lấy, không thể do kẻ khác truyền dạy. Là tại sao? Có dạy được chăng là vì nơi người đã có sẵn mầm tư tưởng mà ta muốn truyền dạy.
Nên chi Trang Tử mới nói: “Đồng với ta cho ta là phải” và chấp nhận, còn “không đồng với ta cho ta là  quấy”  và không chấp nhận. Như vậy thì không ai có thể dạy ai được; ta chỉ khêu gợi được những gì có sẵn nơi tâm trí kẻ khác mà thôi. Đó cũng là  một  trong nhiều nghĩa của “bất Ngôn chi giáo”.
*
* *
Tóm lại, với  bốn  chữ  “bất ngôn chi giáo”, đủ chứng minh rằng Lão Tử không bao giờ chủ trương chính sách  ngu  dân  như đã có nhiều người ngộ nhận mà gán cho ông.  “Bất ngôn chi giáo” là phương pháp giáo dục chỉ dùng đến sự khêu gợi, không dùng phép hữu vi mà nhồi sọ, mà bắt buộc kẻ khác phải nhận sự hiểu biết của mình. 
________________
94.“Cường lương giả, bất đắc kỳ tử”. (Ch.42)
 
Chưa đến lúc nói, thì không nói; đến lúc phải nói thì chỉ nói nửa lời thôi, cốt để khêu gợi, giúp cho người khải phát cái tri thức tiềm tàng của người, nghĩa là người thông đạt là kẻ giúp cho người suy nghĩ, chứ không phải là người suy nghĩ thế cho người 95.
Lối nhận xét này của Lão Tử là lối nhận xét chung của phần đông bậc  trí giả Đông phương.  “Theo người Đông  phương, một  sự hiểu biết gì mà không phải tự mình tìm ra, không phải là  một  sự hiểu biết thật, mà là  một  sự hiểu biết nhồi sọ,  một  thứ hiểu biết ngoài da.  Đọc một bài văn hay một quyển sách mà biết thích và cho là hay là vì nó đồng với chỗ ưa thích của mình và cũng nhờ đó mà nó khêu gợi lên được và làm vang dội tâm hồn mình. Đó là chỗ mà người Đông phương gọi “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Cho nên đọc sách (về Đạo  học) theo người Đông  phương không phải là để học thêm của người, mà là để tìm hiểu cái sâu thẳm, khải phát cái mà lòng ấp ủ hoặc đã có sẵn nơi mình mà mình không dè.  Vì vậy, cũng thời  một  câu văn mà có kẻ nghe qua không thấy chút gì rung cảm; trái lại, có kẻ vừa đọc qua là thấy cả cái người của mình rung chuyển lạ thường” (...)  Sách vở Kinh  điển của Đông  phương (mà quyển  Đạo Đức Kinh đây là  một) vì thế phần nhiều dùng  một  lối văn rất vắn tắt không lý luận, cũng không minh chứng dài dòng. Đó là cốt để cho kẻ học hỏi phải dụng công suy nghĩ và lắng nghe cái tiếng dội nơi chỗ thâm sâu của lòng mình. Lời lẽ trong sách chỉ để khêu gợi... mà muốn khêu gợi thì chỉ nên nói nửa lời thôi. Đọc sách của Đông  phương viết ra phải nhớ lời nói này của một học giả Tây phương khuyên ta: “Điều quan trọng không phải nơi
cái điều mà quyển sách muốn nói với ta, mà nơi những gì quyển sách khêu gợi được nơi lòng ta”. Xem như trí thức và lý luận của các hiền giả Đông phương đâu có kém gì người Tây  phương, thế nhưng tại sao sách vở họ viết ra lại dùng  một  lối văn vắn tắt, không mạch lạc, không minh chứng? Đó là dụng ý của họ cốt tạo  một cái học về bề sâu, khêu gợi và làm khải phát cái tiềm lực thiêng liêng tàng ẩn trong đáy lòng người đệ tử hay người đọc sách. Sự tối tăm cố ý của câu văn có công dụng hấp dẫn của nó là kích thích óc tò mò, sự tìm hiểu ẩn ý của người viết và nhân đó giải phóng những tiềm lực thiêng liêng ẩn núp trong đáy lòng của mình” 96.
Phái Thiền học của Phật giáo Đại thừa lại còn đi xa hơn trong vấn đề “bất ngôn chi giáo” do Lão Tử đề xướng. Họ cho rằng: “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Vì Đạo học là một  vấn đề không thể dùng danh từ mà truyền được.
Ông Thầy ở Đông phương không vội vàng truyền giáo cho bất cứ ai. Dù là đối với các đệ tử của mình đến cầu thụ thỉnh giáo. Ông thầy Đông phương cũng đợi đến khi nào lòng người cầu Đạo chí thành và đủ sức hiểu biết mới chịu nói ra và cũng chỉ nói nửa lời mà thôi! Đó là do quan niệm về lối dậy dỗ theo thuyết “bất ngôn chi giáo” mà ra vậy.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Sun Jul 27, 2014 12:14 pm

TAM BỬU
三寶
Chương 67, Lão Tử viết:  “Ngô hữu Tam bửu, trì nhi bão chi: Nhất viết Từ, Nhị viết Kiệm, Tam viết Bất cảm vi thiên hạ tiên. Từ cố năng Dũng, Kiệm cố năng quảng, Bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng”  (我有三寶,  持而保之:  一日慈,  二日儉,
三日不敢為天下先. 故能成器長).  Ta có ba  vật báu, hằng nắm giữ và ôm ấp: một  là Từ, hai là Kiệm, ba  là không dám đứng trước thiên hạ. Từ mới có Dũng, Kiệm mới có rộng,
không dám đứng trước thiên hạ thì được ngôi cao.
*
* *
_________________
95.Phương pháp dạy của lối giáo dục Mới (bên Âu Mỹ) ngày nay.
96.Văn minh Đông phương và Tây phương (trang 99-100-101) (cùng một tác giả)
 
1)  Từ  慈  là yêu thương tất cả mọi người bất luận là người lành hay người dữ, tha thứ độ lượng. Chương 49, ông có nói: “thiện giả ngô thiện chi, bất thiện giả ngô diệc thiện chi...
Tín giả ngô tín chi, bất tín giả ngô diệc tín chi”  (善者吾善之,  不善者吾亦善之…
信者吾信之,  不信者吾亦信之).  Với kẻ lành thì lấy lành mà ở, với kẻ chẳng lành cũng lấy lành mà ở... Với kẻ thành tìn thì lấy thành tín mà ở, với kẻ không thành tín thì cũng lấy thành tín mà ở. Như thế ta thấy rằng Lão Tử rất là hoằng đại đối với tất cả mọi người.
Dưới mắt ông không có kẻ thiện người ác, không có kẻ phải người quấy, không có kẻ quý người tiện... Gần với Bát Nhã Bình đẳng của nhà Phật.
Không như Khổng Tử chủ trương “dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức”, Lão Tử xướng lên thuyết “báo oán dĩ đức”.
Lấy đức mà trả oán thì oán mới tiêu tan, lấy trực mà báo oán thì cũng không làm sao dứt được hậu hoạn của lòng thù hận. Nhân đạo phải đứng trên công lý. Với chữ Từ  của Lão Tử, ta không lạ gì ông khinh Nhân Nghĩa mà trọng Đạo Đức, lòng rất rộng rãi, không câu chấp, không thiên vị. Đó là hạnh của bậc chí nhân.
Lấy “oán mà báo oán”  là việc thường tình, lấy  “trực mà báo oán”  thì cao hơn  một bực,
nhưng lấy  “đức mà báo oán”  thì phải là kẻ phi thường, đứng trên loài người vì đã tha thứ, lại còn yêu thương được kẻ đã làm hại ta, phải là bậc chí nhân chí dũng trên đời, phải là kẻ đã thắng được lòng vị kỷ và ham sống của mình. “Thắng nhơn giả hữu lực, tự thắng giả cường”:  Kẻ mà thắng được lòng ích  kỷ của mình, lấy đức mà trả oán, là kẻ dũng mãnh nhất trên đời. Bởi vậy Lão Tử mới nói: “Từ cố năng Dũng” (慈故能勇) 97.
Tóm lại, người mà thực hiện được chữ Từ, là người chí thiện chí tín. Chí thiện nên không thiện riêng với  một ai, dù với người thiện hay bất thiện.  Chí tín  nên không thành tín với riêng ai,  dù là với người thành tín hay không thành tín. Vô Vi của Lão Tử quả là khó khăn cho những ai chưa diệt được Bản Ngã, chưa diệt được lòng  “tham sinh úy tử”  của mình, và quả là hành vi của người đại dũng.  Ta nên để ý đến cái Dũng của bậc Thánh nhân: sở dĩ họ khác với thế nhân là nơi họ, Dũng bao giờ  cũng căn cứ trên lòng Từ.
______________
97.Xem quyển Cái Dũng của Thánh Nhân (cùng một tác giả)
 
Bởi vậy Lão Tử mới nói:  “Kim xá Từ thả Dũng...  tử hĩ”  (今舎慈且勇… 死矣) (Nay,  nếu bỏ Từ mà được Dũng, là chết vậy). Đó là  “thất phu chi dũng”, đó là cái dũng của kẻ bạo
tàn:  “Cường lương giả,  bất đắc kỳ  tử”  (dùng bạo lực, chết bạo tàn)  (Ch.42), đó là lẽ dĩ nhiên.
*
* *
2) Của báu thứ hai của Lão Tử, là Kiệm.
Kiệm, tức là biết ức chế lòng thích xa xỉ và thỏa mãn thú tính của nhục thân. Lão Tử thường khuyên ta hãy  “khứ thậm, khứ xa, khứ  thái”. Xa là xa xỉ;  thái là phung phí kiêu sa. Thói xa hoa là cái bệnh nguy hiểm nhất cho kẻ cầm quyền trị nước.
Kiệm  giúp cho ta  biết đủ, sống không nô lệ lấy dục vọng, không nô lệ ngoại giới, không nô lệ bất cứ một thế lực nào. Trái lại, kẻ sống trong  xa hoa,  sớm muộn gì cũng sẽ đi đến
nô lệ dưới mọi hình thức.  Người mà có đức  Kiệm  là người sống trong đơn giản, không chạy theo cáo phụ mà quên cái chánh của đời người. Cho nên,  người Kiệm  mới có thể có
lòng rộng rãi, thứ tha, tự do và làm nên đại sự: “Kiệm, cố năng quảng”.
Cầm quyền trị nước mà sống không kiệm ước, kiêu sa là cái hại cho nước; họ sẽ đặt vào đầu dân chúng sưu cao thuế nặng để có đủ mà cung phụng nếp sống củ họ, Người theo Đạo thì: “tổn hữu dư, bổ bất túc”, trái lại nếu vì lòng ích kỷ (người xa xỉ là người ích kỷ) mà “tổn bất túc, bổ hữu dư” làm cho giàu nghèo quá chênh lệch, giai cấp đấu tranh, phải chăng chính mình gây nên họa chiến tranh, tự mình vời họa đến cho mình.  Chương 53, ông nói: “Triều thậm trừ, điền thậm vu, thương thậm hư. Phục văn thái, đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư. Thị vị đạo khoa, phi Đạo dã tai!”  (朝甚除,  田甚蕪,  倉甚虚.
服文綵, 帶利劍, 厭飮食, 財貨有餘. 是謂盗夸, 非道也哉) (Triều đình lộng lẫy thật, mà ruộng nương đầy cỏ hoang, còn kho đụn thì trống trơn. Áo quần sang trọng thật,  đeo kiếm bén, ăn uống chán, của cải thừa. Nhưng đó là đường của đạo tặc, đâu phải  đường của Đạo lớn).  Nếu lâu dài ở chốn triều đình mà lộng lẫy, huy hoàng là nhờ người ta đã “lấy chỗ thiếu” của dân mà “bù thêm vào chỗ dư” của giới giàu sang ở triều đình. Vì thế mới nói “ruộng nương đầy cỏ hoang”,” kho đụn trống rỗng” không còn một hột thóc. Các bậc Vua Chúa Quan Quyền thì có dư lại có dư thêm, còn chúng dân đã thiếu lại càng thiếu thêm, đó là hậu quả của sự trị nước của kẻ không lấy Kiệm  ước làm đầu.  Bởi vậy, họ ăn mặc cực kỳ  sang trọng, đeo gươm bén, ăn uống chán, của cải thừa... Như vậy họ là
kẻ  “đạo  khoa”  nghĩa là bọn đạo tặc cướp của kẻ khác để khoa trương... chứ không phải trị nước theo Đại Đạo, vì theo Đạo phải biết  “bớt chỗ dư bù chỗ thiếu”.  Chương 59, Lão
Tử đã nói rõ: “Trị nhơn sự thiên mạc nhược sắc. Phù duy sắc, thị vị tảo phục, tảo phục vị chi trọng tích đức. Trọng tích đức tắc vô bất khắc. Vô bất khắc tắc mạc chi kỳ  cực. Mạc chi kỳ  cực khả dĩ hữu quốc”  (Trị người, giúp  Trời không chi bằng tiết kiệm. Tiết kiệm phải là việc lo đầu tiên. Lấy nó làm việc lo đầu tiên, thì chứa được đức. Chứa được đức, thì không có gì là không thắng được, thì không ai biết được chỗ cùng cực của nó. Không ai biết được chỗ cùng cực của nó, thì mới có thể nắm giữ được nước)  治人事天莫若嗇.
夫唯嗇,  是以  早服,  早服謂之重積德.  重積德則無不克.  無不克則莫知其極.
莫知其極可以有國.
*
* *
3)  Của báu thứ 3 của Lão Tử, là  “không dám đứng trước thiên hạ”. Người đời thường vịn vào đây mà cho ông là hèn yếu, là chủ trương thoái hóa, chống với tiến bộ.
Thật có đúng như vậy, nếu người ta quan niệm  “tiến bộ”  là tranh hơn tranh thua để tìm cách đứng trên đầu trên cổ đồng loại mới hả lòng cho, thì Lão Tử quả thật là người chủ trương không nên tiến bộ kiểu ấy. Và như vậy, cho rằng ông chủ trương “phản tiến hóa” cũng không sao.
Huống chi Lão Tử cho rằng mỗi người mỗi vật đều mang nơi mình  một cái Lý độc nhất vô nhị. Lý ấy đồng với Đạo. Theo ông thì “phản giả Đạo chi động” (反者道之動), nghĩa là cái động của Đạo là trở về. Trở về là  “phục quy  kỳ  căn”  (trở về nguồn gốc) tức là trở về với cái Đạo nơi mình. Như vậy, thì thuyết Tiến hóa chủ trương sự trở nên, nghĩa là trở nên  một cái gì mà mình chưa có bằng sự chiếm đoạt, thu trữ ngoại vật là trái với cái chủ chỉ của Lão Tử rất xa vậy.
Còn bảo rằng: “không dám đứng trước thiên hạ”  là hèn yếu lại  càng không đúng.  Thích đứng trước và đứng trên thiên hạ phải chăng là cái tật chung của những con người bị tâm cảm tự ty? Trái lại, kẻ mà nơi trong đầy đủ lại không thích đứng trên thiên hạ mà trái lại hay nhún nhường là khác. Cùng một nghĩa với những câu:  “tri kỳ  hùng, thủ kỳ  thư, tri kỳ bạch, thủ kỳ  hắc. Tri kỳ  vinh, thủ kỳ  nhục”  (Ch.28) (知其雄,  守其雌,  知其白,  守其黑, 知其榮,  守其辱) (mình là con đực, hãy làm như con cái... Mình là trắng, hãy làm như đen…  mình là vinh, hãy giữ làm nhục).  Như vậy đâu phải là hèn nhát, mà  lại là  một sự đại dũng trong đời. Kẻ thắng được lòng tự tôn tự đại, thắng được lòng ham danh hiếu thắng, đâu phải kẻ tầm thường mà làm được.  “Thắng nhơn giả hữu lực, tự thắng giả cường” (Thắng người là kẻ có sức, nhưng thắng mình mới là người mạnh).
Chương 66, ông nói: “Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kỳ thiện hạ chi (...)
Thị dĩ dục thượng dân tất dĩ ngôn hạ chi, dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi. Thị dĩ thánh nhân xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất hại. Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm. Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh”. (Sông biển sở dĩ làm đặng Vua trăm hang là vì nó khéo đứng dưới thấp... Bởi vậy, muốn ngồi trên dân, hẳn nên lấy lời mà hạ mình. Muốn đứng trước dân, hẳn nên lấy mình để ra sau. Vậy nên, bậc Thánh nhân ở trên mà dân không hay nặng, ở trước mà dân không thấy hại. Vì thế, thiên hạ không chán, lại còn đẩy tới trước. Bởi đó không tranh nên thiên hạ không cùng tranh với đó được)  (江海所以能為百谷王者,  以其善下之…  是以欲上民必以言下之,  欲先民必以身後之.  是以聖人處上而民不重,  處前而民不害. 是以天下樂推而不厭.  以其不爭, 故天下莫能與之爭).
Lão Tử lấy  “sông,  biển”  để cụ thế hóa và minh chứng chủ trương  “không dám đứng trước thiên hạ”... Nếu muốn ngồi trên dân chúng hãy tự mình khiêm cung nhũn nhặn, và nếu muốn cầm đầu nhân dân phải biết đứng đằng sau lưng họ. Đây là nguyên tắc xử thế điển hình của Lão Tử thường được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sách của ông.
Cũng đồng một ý với câu  “hậu kỳ  thân nhi thân tiên”  (để thân ra sau mà thân ra trước).
Và “quý  dĩ tiện vi bổn, cao dĩ hạ vi cơ. Thị dĩ Hầu vương tự vị cô  quả bất cốc. Thử dĩ kỳ tiện vi bổn da? Phi hồ?” (Quý lấy tiện làm gốc, cao lấy thấp làm nền; nên chi, hầu vương tự xưng là “con côi”, “ít đức”, “không lành”. Đó là lấy tiện làm gốc không phải vậy sao?)
(Chương 39) (故貴以賤為本,  高以下為基;  是以侯王自謂孤寡不穀.
此其以賤為本邪?  非歟?).
Bậc thánh nhân trị nước ngồi trên đầu nhân dân mà nhân dân không hay là mình ngồi trên đầu. Dẫn đạo nhân dân mà nhân dân không cảm thấy bàn tay của mình dẫn dắt. Là nhờ họ  “không dám đứng trước thiên hạ”. Bởi vậy người dân không chán, lại còn đưa mình lên ngôi cao. Bởi luôn luôn đứng dưới thấp và ở đằng sau nên người dân không có chỗ để tranh chấp, cho nên mới nói:  “vì không tranh mà thiên hạ không sao cùng tranh với họ được”. Thuyết “bất tranh” của Lão Tử cũng do thuyết “bất cảm vi thiên hạ tiên” mà ra.
Trị nước bằng  đạo  hữu  vi lại không thế: thích ăn trên ngồi trước, thích lấy cái trị mà trị thiên hạ, thích lấy ý riêng mà can thiệp đến việc riêng tư của thiên hạ... nên người dân cảm thấy mình bị trị quá rõ ràng. Do đó mà người dân mới sinh ra tâm trạng  chống đối.
Và nhân thế,  bậc trị nước phải lo đề phòng và củng cố uy quyền mình bằng luật lệ bủa giăng... Giữa cấp thống trị và bị trị đã có chỗ tranh nhau, thì trước sau gì cũng sẽ có kẻ thắng người bại.  Ngày mà người dân cảm thấy sức nặng của người trên  đè xuống, cảm thấy cái bàn tay dẫn dắt chỉ đạo quá gắt gao còng giữ, họ sẽ đâm chán, mong vứt quăng gánh nặng, vượt khỏi cái bàn tay sắt buộc ràng…  Dùng đạo hữu vi mà trị nước là tạo ra cho nhân dân có chỗ cùng tranh với ta...  là nguy. Cho nên ông mới nói:  “Xá  hậu thả tiên... tử hĩ”. (Bỏ sau để đứng trước… là chết vậy) (Ch.67). Thật vậy, “làm bậc trên thiên hạ mà thiếu tư cách thành thực khiêm nhu từ tốn,  việc gì cũng chỉ muốn ngồi trên đầu trên cổ dân mà trị, tức là làm nhục thiên hạ, thế mà không chết thì   là  một sự may mắn lạ thường” 98.
*
* *
Tóm lại, sự Lão Tử nói:  “Ta có  ba  vật báu”  thế là ta có thể hiểu  ba  vật báu ấy là  ba  cái chủ nghĩa lớn của ông đem ra xử thế. Mà chữ  Từ  là đứng đầu,  hai  báu kia đều do đó mà ra cả. Kiệm, là cũng nhờ lòng Từ, không nỡ xa xỉ, mình có dư mà người người thốn thiếu.

“Bất cảm vi thiên hạ tiên”  là không tranh dành cái việc làm nhục vào lòng người. Phải chăng cũng do lòng Từ mà có được cử chỉ quên mình ấy. Cho nên rút lại mà nói thì Từ là đầu mối của Đạo xử thế của ông 99.________________


Có người bảo rằng  Từ  đây cũng giống với thuyết  Kiêm Ái.  “Bất cảm vi thiên hạ tiên” giống với thuyết  “Phi công”,  và  Kiệm  giống với thuyết  “Tiết Dụng”  của Mặc Tử. Nhận
xét thế là nông cạn. Chữ  Từ  của Lão Tử có  một  nguồn gốc  siêu hình, còn chủ thuyết Kiêm  Ái  của Mặc Tử chỉ bắt nguồn ở vấn đề hình thức xã hội mà thôi. Ngay  một chữ Từ ấy cũng đã thấy không thể cùng so sánh với nhau rồi;  các quan niệm kia đều theo đó mà suy ra không thể có sự so sánh cho được.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Tue Jul 29, 2014 12:32 pm

HUYỀN ĐỒNG
玄同
A.-  Chương  56 có đoạn:  “Tỏa kỳ  nhuệ, giải kỳ  phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ  trần. Thị vị Huyền Đồng. Cố bất khả đắc nhi thân, bất khả đắc nhi sơ, bất khả đắc nhi lợi, bất khả đắc nhi hại, bất khả đắc nhi quý, bất khả đắc nhi tiện.  Cố vi thiên hạ quý”  (Nhụt bén nhọn,bỏ chia phân, hòa ánh sáng, đồng bụi bậm, ấy gọi là Huyền Đồng. Thế nên không thể lấy chỗ thân mà được, không thể lấy chỗ sơ mà được, không thể lấy chỗ lợi mà được,
không thể lấy chỗ hại mà được, không thể lấy chỗ quý  mà được, không thể lấy chỗ tiện mà được. Vì vậy,  dưới trời không gì quý  hơn)  挫其銳,  解其紛,  和其光,  同其塵.
是謂玄同.  故不可得而親;  不可得而疏,  不可得而利,  不可得而害,  不可得而貴,
不可得而賤. 故為天下貴. (Chương 56).
Nơi chương 1, Lão Tử đã định nghĩa chữ  “Huyền”  là  “Đồng vị chi Huyền”  (同謂之玄), nghĩa là Đồng với nhau nên gọi là  Huyền. Cái gì đồng với nhau? Đạo và Đức, Vô Danh và Hữu Danh, Nhĩ và Ngã, Thị và Phi, Thiện và Ác...  Huyền Đức, nghĩa là cái Đức của người đã hỗn hợp cùng vời Đại Toàn Thể, đã thực hiện được sự đồng nhất với trung tâm
____________________
Dịch Kinh nói “Khiêm hanh, quân tử hữu chung” (謙亨君子有終). Quẻ Khiêm là hanh thông, người quân
tử được sự sau cùng. Nho gia là Trình Tử nhân đó bàn rằng:  “Có đức mà không tự nhận, gọi là KHIÊM. Người ta lấy sự khiêm tốn xử sự thì đi đâu mà không hanh thông? “Quân tử hữu chung” nghĩa là người quân tử chí ở khiêm tốn suốt lẽ, nên vui với mạng trời mà không cạnh tranh. Bên trong của họ đầy đủ cho nên tự mình nhún nhường, không khoe khoang, không khoa trương, yên lặng trong sự khiêm tốn suốt đời mà không đổi; mình tự hạ mình mà người ta càng tôn lên. Mình tự che cho tối đi mà đức càng sáng tỏ, đó là người quân tử “hữu chung” (...) “Tính người thì ghen ghét kẻ tự mãn mà yêu thích người khiêm tốn. Khiêm là cái đức cao tột của người, cho nên thánh nhân nói kỹ để răn kẻ tự mãn và khuyến khích kẻ nhún nhường”.
Ở hào sơ lục lại nói: “Khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát”. (Hào sơ lục, người quân tử đã nhún lại nhún thêm: dùng sang sông lớn được. Tốt). Đã khiêm lại càng khiêm hơn nữa, nên gọi “khiêm khiêm” tức là nếu biết cư xử cực kỳ thấp kém, thì mọi người cùng về với mình, dù đã qua sông lớn còn
không lo hại, huống chi ở nơi bình địa mà xử thế được như vậy, có gì phải lo đến hậu hoạn. Chu Tử nói: “Là hào nhu thuận ở dưới, là sự nhún nhường đến tột cùng, đó là nết của người quân tử”.
 
sự Sống của  vạn  vật, không còn thấy có Ta có Người, có Trong có  Ngoài, có Phải có Quấy, có Lợi có Hại, có Lành có Dữ, có Vinh có Nhục, có Sống có Chết... Người như thế
là người không còn chia phân Nhĩ Ngã, tức là người không còn thấy mình khác biệt với người... Sở dĩ người ta thường hay ưa khoa trương, ưa khoe khoang, ưa những cái sắc sảo
bén nhọn, cạnh góc, là để biểu dương cái hay, cái giỏi của mình, để mà nâng cái bản ngã của mình lên, dìm cái hay cái giỏi của kẻ khác xuống đặng làm cho mình càng thêm khác
biệt kẻ khác, làm cho Nhĩ Ngã càng thêm chia cách. Trái lại người hữu Đạo, thì càng tìm cách “làm nhụt sự bén nhọn” của mình làm cho kẻ khác đừng thấy chỗ sắc sảo nhọn bén của mình đi, che giấu sự thông minh có khía cạnh của mình đi. Đó là cái  đức  Huyền Đồng: “Tỏa kỳ nhuệ” (nhụt bén nhọn cạnh góc).
Huyền Đồng  cũng  có nghĩa là  “bỏ chia phân”  (giải kỳ phân). Chữ  “phân”  ở đây có nghĩa là sự phân chia của óc nhị nguyên  (esprit dualiste), óc phân chia cái  Sống Một  của vạn sự vạn vật.  “Giải kỳ  phân”  là giải thoát tâm hồn trí não của ta ra khỏi cái óc phân chia sự vật. Những cặp mâu thuẫn đối đích như Thị Phi, Thiện Ác… chỉ là bề mặt bề trái của  một thực tại mà thôi.  Động là ở trong Tịnh mà ra, Tịnh nhân Động mà có. Vật nhờ Tâm mà thông, Tâm nhờ Vật mà hiện. Hai thứ đối đích ấy cùng đồng một gốc mà ra, tuy hai  mà là  một. Không có Âm thì Dương không nơi nương tựa, mà không có Dương thì
Âm làm sao chuyển vận. Người ta không thể quan niệm Động mà không có Tịnh, Sáng mà không có Tối,  sự liên quan của  hai  lẽ đối đích ấy rất chặt chẽ, không bao giờ có thể rời nhau. Khoa học nguyên tử ngày nay cũng không nói khác hơn.
Huyền Đồng  cũng có nghĩa là đem cái Sáng của mình để mà hòa với cái Sáng của người, chứ không tự tôn tự đại, tự xem mình là Sáng hơn người, đem cái Sáng của mình để cố che lấp cái Sáng của kẻ khác, hoặc để lòe người,  để lấn áp kẻ khác, để nâng mình lên, dìm kẻ khác, để phân biệt mình và người...  Bậc hiểu và hành Đạo, cho rằng tất cả cái Sáng của mọi người đều cùng Đồng  một  cái  “Sáng Chung”  mà ra cả. Cho nên mới gọi Huyền Đồng là “hòa kỳ quang” (和其光).
Kẻ biết Đạo, chẳng những đem cái Sáng của mình để hòa đồng với cái Sáng của mọi người, mà cũng đem cái không Sáng của mình, những cái “bụi bặm” của mình mà Huyền Đồng với cái  “bụi bặm”  của đời, không cho thấy sự khác biệt vời đời... Bậc đạt Đạo, không phân tách mình với đời, mà xem cả hai là một “thử lưỡng giả đồng” (此兩者同).
Vì vậy, người đạt Đạo tức là người đã Huyền Đồng  mọi sự phân biệt về Vinh Nhục, Lợi hại, Quý Tiện, Thân Sơ, thì làm gì còn lấy được sự “thân”, sự “lợi”, sự “quý” để mà dỗ, hoặc lấy sự  “sơ”, sự  “hại”, sự  “tiện”  mà dọa. Cho nên người đạt Đạo, đến được chỗ Huyền Đồng  với Đạo, sẽ là người điềm đạm chí cực, không còn  một  thế lực ngoại giới nào trên đời làm lay chuyển hay lung lạc được tâm hồn họ nữa. Cho nên, mới nói:  “dưới trời chưa có kẻ nào quý bằng hạng người đó” (為天下貴) Léon Wieger dịch chữ  Huyền Đồng  là Mystérieuse Union au Principe, tức là sự  “hỗn hợp huyền bí với đạo”, còn Pierre Leyris thì dịch  Identité  mystérieuse. Người cầm quyền trị nước, muốn thực hiện được sứ mạng của mình cũng phải biết  “huyền đồng”  với nhân dân,  “lấy cái lòng của nhân dân làm cái lòng của mình”:  “dĩ bách tánh tâm chi tâm”
(Ch.49) (以百性心之心), lấy cái lo của thiên hạ làm cái lo của mình.
*
* *
B.-  Đối với tất cả mọi hiện tượng trên đời đều chứa đựng mâu thuẫn, nhưng những  mâu thuẫn đều chỉ là bề mặt bề trái của thực tại. Người đã thực hiện được sự  Huyền Đồng nơi bản thân, hỗn hợp được Tâm và Trí, Thần và Vật, thì cũng sẽ  Huyền Đồng  được với tất cả vạn vật bên ngoài, không còn thấy Ta thấy Người, mà nhận thấy tất cả Nội Ngoại, Chủ
Khách đều là  một  cả.  Nhân đó, ta sẽ không còn thấy cái mà ta gọi là Ta riêng tư nữa, nguyên nhân của tất cả sự đau khổ trên đời:  “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn”.  (Ch.13) (吾所以有大患者,  為吾有身, 及吾無身, 吾有何患). “Hữu thân”, đây là chỉ về cái  “bản ngã”  của mình. Con người vì quá lo lắng cho cái  bản  ngã của mình mới gây nên sự  “lo lớn”. Cho nên ta không nghĩ
đến mình nữa thì làm gì có lo?
Như vậy, ta có thể nói rằng người đã đạt đến trạng thái  Huyền Đồng, nghĩa là người đã diệt được Bản Ngã, đã đồng hóa với Đạo rồi, thì sẽ giải quyết ngay được các mâu thuẫn to tát nơi tâm hồn, không còn thấy sự đèo bòng tham muốn cái bên ngoài, những dục vọng chiếm đoạt làm của riêng, đề cao mình để phủ nhận kẻ khác, không còn tự ti  cũng chẳng tự tôn, đó là người đã nhờ phép  Huyền Đồng  mà được cái  đức Huyền của Đạo (玄德).  Nên mới nói: “Đạo sanh chi, Đức súc chi. Trưởng chi dục chi, đình chi độc chi, dưỡng chi phúc chi. Sanh chi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, thị vị Huyền đức”
(Đạo sanh đó, Đức nuôi đó, cấp dưỡng đó, nuôi nấng đó, đùm bọc đó. Bồi sức đó,  dưỡng nuôi  đó, chở che đó.  Sanh mà không chiếm làm của mình, làm mà không cậy công, làm bậc trên mà không làm chủ,  gọi là Huyền Đức).  Đạo và Đức có công sanh và thành vạn vật, nhưng không vì sanh mà chiếm làm của riêng của mình, không vì gia ân mà cậy công và khoe khoang, không vì là kẻ bề trên mà áp bức kẻ dưới phải nghe theo mình, ra mặt là người trên trước.  Cho nên người được cái đức Huyền của Đạo thì hành động có khác với người đời: “họ sanh mà không chiếm làm của riêng, họ làm mà không cậy công, họ là bậc trên mà không ra mặt là người chủ tể... Họ là người vô kỷ, vô công và vô danh”.
Người chưa đi đến cái đức Huyền của Đạo (Huyền Đức) không làm như vậy: họ làm và kể công, chứ không làm  để mà làm một  cách không tư tâm, không vị  kỷ. Hễ họ có công sanh, công dưỡng thì họ lại cố chiếm lấy làm của riêng, sai sử theo ý muốn, lợi dụng đủ mọi phương diện. Nếu họ là bậc trị nước, thì họ thích lên mặt là người trên, ép buộc người dưới phải phục tùng quỳ  lụy... kẻ nào không nghe lời  họ là kẻ bội nghịch đối với họ.
*
* *
Tóm lại, Huyền Đồng là phương tiện mà Huyền Đức là cứu cánh. Huyền Đức là để xử Kỷ, mà Huyền Đồng là để tiếp vật.
Hai chữ Huyền Đồng đây có thể gọi là cứu cánh tuyệt đối của học thuyết Lão Tử. Hễ thực hiện được nó nơi lòng mình rồi  một  cách tự nhiên và vĩnh viễn, đó là người Đắc Đạo (得道) vậy. Và cũng chính vì không nhận thấy rõ chỗ cứu cánh này mà người ta mới gán cho cái học của Lão Tử (cũng như của Trang Tử) là cái học  yếm thế  hay  xuất thế. Trong khi vấn đề Nhĩ Ngã, Ta và Đời, đối với Lão Trang, không còn là  hai, mà là  Một (物我為一) 100. Đó là  một lầm lạc to tát, do sự so sánh thiển cận với những học thuyết xã hội của Nho, Mặc.
*
* *
Đối với thuyết  Huyền  Đồng  (玄同), Lão Tử bác cái thuyết Thần  quyền, và  chủ trương thuyết Vạn Vật Nhất thể  (panthéisme), tức là bác tất cả các Thần  tượng bên ngoài bất cứ dưới hình thức nào, nghĩa là bác tất cả mọi sự thờ phụng lễ bái 101.
Sao nói rằng không thể thực hiện được sự  Huyền Đồng? Lấy thí dụ người thợ lặn, sở dĩ họ lặn dưới nước như loài thủy tộc là vì họ đã quên (忘) rằng họ là họ khác biệt với nước, mà đã cùng với nước là  một. Trang Tử, giải nó trong câu chuyện ngụ ngôn lý thú và sâu sắc sau đây: “Khổng Tử đứng xem thác nước Lữ Lương. Thác ấy cao độ ba bốn chục lần bề cao con người. Nước đổ xuống thành một dòng sôi bọt, chảy cuồn cuộn trong một cái lạch dài hơn bốn mươi dặm. Dòng nước lộn nhào đến đỗi rùa cá cũng không ở đặng.
“Bỗng Khổng Tử thấy một người vận chuyển trong nước xoáy. Cho là một người thất chí muốn tự trầm nên bảo đệ tử đi theo bực thẳm đặng coi có thể nào cứu vớt. Cách ít trăm bước dưới nguồn, người ấy bèn lên khỏi nước, xổ đầu tóc ra phơi, vừa đi vừa ca hát...
Khổng Tử theo kịp hỏi: “Tôi hòng cho Ngài là  Thần Thánh chi, mà bây giờ rõ Ngài là người. Làm sao mà vận chuyển được trong nước dễ dàng như thế? Xin cho tôi biết cái pháp của Ngài?”
“Người đó nói: “Tôi không có pháp gì cả. Ban đầu, tôi khởi sự lội theo nề nếp, rồi sự lội ấy thành ra tự nhiên cho tôi; bây giờ tôi linh đinh như loài thủy tộc kia, bởi vì tôi đã đồng làm  Một  cùng tánh nước, không còn thấy tôi riêng với nước nữa. Tôi xuống với nước xoáy, tôi lên với nước vận, tôi luân chuyển theo sự luân chuyển của nước chứ không luân chuyển theo ý riêng  của tôi nữa... Tôi ở trong nước như tôi ở trong chỗ tự nhiên của tôi.
Nước gánh lấy tôi, vì tôi cùng nó là Một”. (Đạt Sinh)
*
* *
“Huyền đồng”  của Lão Tử tức là Tề Vật của Trang Châu, là  “Bát Nhã Bình Đẳng”  của Phật Giáo Đại thừa.
Người mà thực hiện được “Huyền đồng”, thì tất cả quan năng trong con người đều được thống nhất... Như Giáo sư E.Herrigel đã nói trong quyển  “Le Zen dans l’art chevaleresque du tir à l’arc...”:  … “sự hoàn thiện trong nghề đánh kiếm là cái tâm của người đánh kiếm phải đừng náo động vì ý niệm chia phân nhĩ ngã, đừng còn thấy có Ta có Người, đừng còn thấy có người địch thủ với ngọn kiếm của nó, đừng nghĩ gì đến cây kiếm của mình và cách xử dụng nó nữa, và cũng đừng bận gì đến vấn đề sinh tử...” “Giải thoát được khỏi cái ý niệm ham sống sợ chết, tức là cặp mâu thuẫn Sinh và Tử...  Đó là đạt đến cái nghệ thuật cao nhất của phép đánh kiếm rồi vậy”.
 
__________________
100.“Vật ngã vi nhất”. (Goldfish).
101.So sánh với câu này của một nhà Đạo Học hiện đại: “Pour l’individu soi-conscient, l’antimonie SUJET-OBJET existe, de sorte qu’il donne une forme à quelque Entité inaccessible qu’il implore de l’aider, à qui il donne son Amour, son Adoration, son être entier. Mais le but de l’existence est que l’individu réalise en soi-même la Totalité – sans object ni sujet – c’est-à-dire la Vie-Pure”. (Krisnamurti).
 
… “Người thợ lặn giỏi, là người không còn thấy mình khác với nước nữa; người bắn hay là người bắn mà không thấy mình khác với cái đích của mình bắn;  người thợ vẽ hay, là người thợ vẽ không thấy mình khác với vật mình vẽ...  nghĩa là không còn để ý đến ngoại vật, đến cái việc làm của mình nữa! Đó là đã đến mức Huyền Đồng rồi vậy!”.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Sat Aug 02, 2014 6:17 pm

VÔ VI
無為
Vô Vi  có thể gọi là danh từ gồm nắm tất cả bộ sách Đạo Đức Kinh. Nó là danh từ tổng yếu bao quát tất cả mọi đề tài đã được giải rõ trong tám mươi mốt chương sách: không có
chương nào là không nói đến nó.
Lão Tử nói: “Ngã hữu tam bửu...nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam  viết bất cảm  vi thiên hạ tiên” (我有三寶… 一日慈, 二日儉, 三日不敢為天下先) (Ta có ba vật báu... Một là Từ,
hai là Kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ) (Ch.67).
Từ là yêu tất cả mọi người, bất luận đối với người tốt hay kẻ xấu... Người đời không phải thế: Người đời bảo:  “dĩ oán báo oán”. Nho gia bảo:  “dĩ trực báo oán”  (Luận ngữ), đó là
đạo  hữu vi. Trái lại,  Từ  là dám xem kẻ thù như người bạn, không lấy oán mà báo oán, cũng không lấy “trực”  mà báo oán, nghĩa là không dám châm thêm vào ngọn lửa oán thù đến nỗi gần như không dám biết đến hai chữ thù oán là gì.
Thiên hạ thì lấy xa xỉ, khoa trương làm mục đích tiến thủ, tranh nhau đua đòi trong sự xa hoa lộng lẫy càng nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiêu... Lão Tử trái lại khuyên ta:  “khứ
thậm, khứ xa, khứ thái”  và lấy kiệm ước làm căn bản cho người  trị nước. Ông lại còn khuyên ta “tri chỉ, tri túc” (知止, 知足).
Người đời đều lấy sự ăn ngồi trên trước làm vinh, và suốt đời chạy mãi theo cái bả vinh hoa phú quý...  thì Lão Tử lại bảo ta không nên  “đứng trước thiên hạ”, cần phải khiêm khu, từ tốn... và luôn luôn đứng dưới và ngồi sau, biết như con đực hãy làm như con cái. “Từ”,  “Kiệm”, và  “bất cảm vi thiên hạ  tiên”, đó đều là những hành động  Vô Vi  trong phương xử thế.
Thế thường, theo đạo Hữu Vi, thì phải lấy Mạnh mà thắng Mạnh, còn Vô Vi thì  trái lại lấy Nhu mà thắng Cương, lấy Nhược mà thắng Cường... và hơn nữa lấy  “cái không tranh
mà thắng được một cách vẹn toàn” (bất tranh nhi thiện thắng) là khác! Đó là  Vô Vi  trong đạo tranh đấu.
Người đời thường bảo “biết người là Trí”, Lão Tử lại bảo “biết mình là sáng”. Người đời thường  bảo  “thắng người là có sức”, ông bảo  “thắng mình là sức mạnh”. Biết người,
thắng người là Hữu Vi, biết mình và thắng mình đó là Vô Vi.
Người đời tranh nhau để làm cho cái Bản ngã của mình càng thêm lớn mạnh bằng sự thu đoạt tích trữ của cải quyền thế cho mình càng nhiều càng tốt;  trái lại Lão Tử khuyên ta “ăn ở giản dị, tự nhiên, ít riêng tư, ít tham dục” (kiến tố bảo phác, thiểu tư quả dục), nhất định “không nên tích trữ cho mình” (thánh nhân bất tích 聖人不積) (Ch.81) và “lo riêng cho mình” gì cả 102.
Và hơn nữa  “đừng tự xem mình là sáng”,  “đừng tự cho mình là phải”,  “đừng tự cho mình là có công”,  “đừng tự cho mình là trên hết”...103 một cách thành thật tự nhiên. Đó đều là những hành động  Vô Vi  trong phương xử  kỷ:  tiêu diệt cái  “Bản  ngã”  của mình.
Hữu Vi, trái lại giúp ta càng tăng gia cái Bản ngã của mình.
*
* *
Tất cả các quan niệm trên đây đều do cái thuyết  phản  và  phục  của Lão Tử mà ra cả:
“Phản giả Đạo chi động” (反者道之動). Thuyết Vô Vi cũng do đó mà ra. Hữu Vi là  “đi  ra”, là “đi tới”, còn Vô Vi là “trở về”, là “thối lại”104.
Vô Vi, không phải là không làm  gì cả, mà đừng làm cái gì đến thái quá, vì “vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản”.  Cái gì mà thái quá cũng đều nguy hại cả. Mục đích của bất cứ một hành vi nào là cũng để đi đến một kết quả. Nhưng nếu lại đi vào chỗ thái quá, thì kết quả có khi lại còn nguy hiểm cho ta hơn là không làm gì cả. Cho nên Vô Vi, cũng có nghĩa là bớt đi những gì thái quá:  “khứ thậm, khứ xa, khứ thái”  (去甚,  去奢,  去泰)
(Ch.29).
Theo Lão Tử thì phải để cho con người trở về với cái sống tự nhiên giản dị của họ... Cho nên Vô Vi là đừng dụng tư tâm mà xen vào cái sống tự nhiên của mọi vật,  càng ít can thiệp đến việc người được bao nhiêu càng quý bấy nhiêu.
*
* *
++++++++++++++++
102.Phi dĩ kỳ vô tư da, cố năng thành kỳ tư (非以其無私耶? 故能成其私) (Ch.7).
103.Bất tự kiến…, bất tự thị…, bất tự phạt…, bất tự căng… (不自見… , 不自是…, 不自伐…, 不自矜…)
(Ch.22).
104.進道若退 (Tiến Đạo nhược thoái: Tiến về phía đạo dường như thối lui) (Ch.41).
 
Căn cứ vào những nguyên tắc trên đây, Lão Tử bàn qua thuyết “Vô Vi nhi trị” của ông về chính trị.
Đồng với Khổng Tử, Lão Tử cũng nhận rằng cần phải có  một bậc Thánh  quân cầm đầu trị nước, thì thiên hạ mới hạnh phúc. Nhưng khác với Khổng Tử, bao giờ cũng cho rằng cần phải  “làm”  nhiều cho dân... Lão Tử tin rằng càng ít  “làm”  chừng nào càng tốt, và không làm gì cả, nếu có thể được, lại càng hay. Là vì theo ông, càng dùng cái trị để mà trị nước thì dễ loạn, càng không dùng đến cái trị để mà trị nước thì nước càng dễ trị. Chương 57 sách Đạo  Đức Kinh có câu:  “Dĩ chính trị quốc.  Dĩ kỳ  dụng binh.  Dĩ vô sự thủ thiên hạ... Thiên hạ đa kỵ húy, nhi dân di bần; dân đa lợi khí, quốc gia tư hôn. Nhơn đa kỹ xảo, kỳ  vật tư khởi. Pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu”  (以正治國,  以奇用兵, 以無事取天下.  天下多忌諱而民彌貧.  民多利器,  國家滋昏.  人多伎巧,  奇物滋起, 法令滋彰, 盜賊多有).  Nghĩa là cần phải lấy sự ngay thẳng thực thà mà trị nước. Trái lại nếu trị nước mà làm như dụng binh,  dùng trá ngụy mà trị thì nguy, vì  “lấy trí mà trị nước, là cái vạ cho nước”  (dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc 以智治國, 國之賊) 105.  Huống chi bậc trị nước mà ban hành nhiều điều cấm kỵ  thì dân chúng càng nghèo khổ, bởi thiếu tự
do hành động và ngôn ngữ..., dân chúng mà đa mưu xảo kế để trục lợi thì nước nhà phải sa vào hỗn loạn tăm tối.  Người dân cần thực thà, ít dục vọng, thì nước mới dễ  trị. Bậc trị nước mà quá khắt khe, đem pháp lệnh bủa giăng trên đầu dân để đề phòng chúng, thì chúng dân cũng tìm đủ mánh khóe thủ đoạn để trốn tránh; gây ra mưu mô gian trá càng ngày càng thêm; dân càng khó trị thì bọn đạo tặc càng nhiều. Cổ ngữ có câu: “pháp lập tệ sinh”.
Dùng Vô Vi mà trị thì ít can thiệp  đến việc người, không dùng tư tâm mà mà hành động, dùng  “bất ngôn chi giáo”  mà dạy dân, lấy gương mẫu của mình mà sửa dân... thì dân không hay là mình có làm gì, nhưng rồi chúng tự sửa đổi lấy mình mà  không cần đến sự bắt buộc hay cấm đoán, ban hành pháp lệnh:  “Ngã vô vi nhi dân tự hóa” (我無為而民自化)106.
Vô Vi, về đạo trị nước, cũng có nghĩa là:  “phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi” 非以明民, 將以愚之  (Ch.65), nghĩa là  “không làm cho dân khôn lanh, mà làm cho dân trở  nên thực
thà”. Chữ “ngu” ở đây không phải có nghĩa là ngu si, mà là “thực thà”... tức là cái “ngu” của những bậc thánh trí: “minh đạo nhược muội”  明道若昧 (Ch.41)107.
*
* *
Tóm lại,  Vô Vi  là hành động trở về nguồn cội, từ bỏ tất cả những gì phiền phức  đa đoan của văn minh giả tạo... đã làm che lấp chân Tánh, cái Đạo nơi lòng. “Vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư Vô Vi”  (Ch.48)  為道日損,  損之又損,  以至於無為.  Theo Đạo thì càng ngày càng bớt…
______________
105.Chương 65. (Goldfish).
106.Chương 57. (Goldfish).
107.“Sáng về Đạo, dường như tâm tối”, nghĩa là cái cực sáng dường như cái cực tối. Chính Lão Tử cũng đã nhận “ngã ngu nhơn chi tâm dã tai” (lòng ta ngu dốt vật thay) (我愚人之心也哉) (Ch.20).
 
Bớt rồi lại bớt nữa, bớt cho đến Vô Vi.
Vô Vi, không phải là không  làm gì cả, mà thực sự:  “Vi Vô nhi vô bất vi”  nghĩa là không làm mà không có gì là không làm, làm  một cách hết sức tự nhiên và kín đáo (thiện hành vô triệt tích),  đem cái tự nhiên mà giúp  một  cách tự nhiên, không tư tâm,  không vị kỷ.
Người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân cũng không dè là thọ ân. Bậc trị nước mà dùng đến cái đạo Vô Vi, dân không hay là mình bị trị... dĩ nhiên được thiên hạ, mà tự mình cũng không bao giờ bị hại.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Tue Aug 05, 2014 5:14 pm

PHẦN THỨ BA
A. SỰ BIẾN THIÊN CỦA LÃO HỌC
Sự biến thiên của Lão học: Đạo giáo
Cái học của Lão Tử chủ trương sự “thanh tĩnh vô vi” ngay trong cái đời loạn ly đến cực độ như thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cũng khó mà tìm được người hưởng ứng, trừ ra
Doãn Hỹ, theo truyền thuyết.
Sau đó hơn một trăm năm, Liệt Tử và  Trang Tử nối nhau mà phát huy cái đạo học của ông và làm cho nó chiếm được một địa vị ngang với các học phái khác trong khoảng Tiên Tần. Nhưng sau Trang Tử, một cự phách trong phái Lão học, người ta thấy rằng cái  học của Lão Tử bị rơi vào trong bóng tối, không có được một nhà đại biểu nào xứng đáng hơn nữa.  Các tông phái sau này tự xưng là gốc nơi Lão học mà ra đều xuất  hiện vào đời Tần Hán trở xuống. Ta có thể chia làm bốn phái chính như sau:
1. Huyền Lý:
Phái này là phái ẩn dật, sống một đời phóng túng  khoáng đạt, phát huy từ đời vua Nguỵ Văn đế; sau có Hà Án, Vương Bật tán dương và nhóm Trúc Lâm Thất Hiền là những đại biểu lỗi lạc nhất.
2. Phái Thần Tiên Đan Đỉnh:
Tức là phái “Trường sinh cửu thị” chủ trương sự luyện đan và tu dưỡng để được trường sinh bất tử và tiêu dao trên cõi trần hoàn.  Đời Tần Thuỷ Hoàng theo lời khuyên của Lư Sinh và Hầu Sinh cho người đi tìm thuốc trường sanh và nhân đó xướng lên cái đạo Thần tiên.  Đến đời Tấn (265-316) Cát Hồng, tự là Bão Phác tử làm sách  “Thần Tiên Truyện”
mười quyển và  “Ẩn Dật Truyện”  mười quyển, là những truyện “thần tiên”.  Và sau này những chuyện thần kỳ quái đản đều gốc nơi đó mà ra cả.
3. Phái Phù Lục:
Đời nhà Hán, triều vua Hoàn đế (146-167 trước T.L) có Trương Khải  dâng lên triều đình bộ sách  “Vu Cát Thần Thơ”. Trong sách chép các việc bói, cúng và các thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Sách này bị triều đình bác đi, nhưng sau được  Trương Giác  kiếm được, lợi dụng nó để làm loạn Huỳnh Cân (thời Tam Quốc) cuối đời nhà Hán.
Đồng thời có Trương Đạo Lăng  học được phép trường sinh vào Thục, lên núi Hạc Minh, làm một bộ Đạo thư 24 thiên, và làm bùa để trị bịnh. Trương Đạo Lăng phụ hội thuyết thần quái của bọn phương sĩ đời Lưỡng Hán, kết nạp được tín đồ mê tín rất đông.   Cuối đời Hán qua đời Tấn thì cái học Hoàng Lão rất thịnh hành, người theo đạo lại rất lưu ý đến phép thần thông biến hoá. Từ đó Lão giáo nghiễm nhiên đã trở thành phép tu tiên, và đến đời Đông Tấn, như đã nói trên, được Cát Hồng quy định rất là chu đáo, sinh ra vô số những phương thuật và mê tín khác. Đến lúc Phật giáo truyền vào Trung Quốc, phái Phù Lục lại thêm được ở giáo lý ấy những thuyết kiếp số, những luật khai độ, để gây thêm lòng tín ngưỡng nơi tín đồ.  Trương Đạo Lăng  được triều đình phong làm chức  Thiên sư,
đời đời truyền cho con cháu.
4. Phái Chiêm Nghiệm:
Từ đời Tây Hán, những bậc Nho gia như Lưu Hướng,Khuông Hành, Cung Thăng đều tin thuyết ngũ hành và sấm vĩ.  Về sau Quang Vũ đế nhà Hậu Hán cũng tin theo, nên phong trào nhâm độn, sấm vĩ càng thêm thịnh hành.  Những phương thuật như phong giác, độn giáp, thất chinh, nguyên khí, lục nhật, thất phân, phùng chiêm, nhất giả, đĩnh truyện, tu du, cô hư, vận khí…  đều là những phép xem hiện tại để đoán tương lai. Những phương thuật này, đến đời Tam Quốc mới là thịnh vượng và chiếm một thế lực quan trọng: Phí Trưởng Phòng, Vu Kiết, Quản Lộ, Tả Từ… đều là những nhà thuật sĩ nổi tiếng cả.
Đến đời Tấn,  Quách Phát  làm ra sách  “Thanh Nang”; đây là ông Thuỷ tổ nghề Địa lý.
Còn về lộc mạng thì sách “Lục Lạc Cầu Tử” xuất hiện từ đời Tuỳ, đây là nguồn gốc cho nghề toán số. Ngoài ra  Lâm Hiếu Công  có làm sách  “Lộc Mạng Thư”  và  Đào Hoàng Cảnh  làm sách  “Tam Mệnh Sao”  cũng đều là sách căn bản của các nhà Toán Mạng sau này. Về nghề  “bốc phệ” thì có sách  “Nguyên Bao”  của  Vệ Nguyên Trung  và  “Linh Đại Bí Uyển”  của  Dữu Quý Tài. Về nghề xem tướng thì có sách  “Tướng Kinh”  của  Đào Hoằng Cảnh.108
*
* *
Những tông phái này không ăn chịu gì đến Lão Tử nữa cả. Điều đáng làm lạ nhất là vị giáo chủ của Đạo giáo không còn là bậc  “ẩn quân tử”  tác giả Đạo Đức kinh nữa, mà đã biến thành Đức  Thái Thượng Lão Quân  với những pháp thuật vô biên và có dưới bộ hạ mình không biết bao nhiêu là thần, tiên, ma quái.
Phần đông người Trung Hoa cũng như người Việt xưa nay đều hiểu Lão Tử theo Đạo giáo, nhất là họ hiểu Lão Tử theo các bộ truyện Phong Thần, Tây Du… những truyện hoang đàng nhất về Thần Tiên và có lẽ rút trong các sách Thần Tiên Truyện của Cát Hồng mà thêu dệt thêm ra. 
________________
108.Mai Khê (Văn Hoá Tùng Thư).
 
Phần đông các sách giáo khoa cũng bị sai lầm vì những chỗ
nhận định sai lầm của người khác. Thậm chí có nhiều nhà  trí thức Việt Nam cũng chưa để ý phân biệt rõ Đạo giáo với Lão giáo, và mỗi khi nghe nói đến Lão Tử thì đều liên tưởng đến những gì như là thần thông phép tắc…
*
* *
Theo Đào Duy Anh,  trong  Việt Nam Văn hoá Sử Cương  thì  “ảnh hưởng trực tiếp Lão Trang trong tư tưởng giới nước ta không mấy gì quan trọng lắm, nhưng ảnh hưởng của Lão Trang bị Đạo giáo lợi dụng thì lại sâu xa và phổ cập vô cùng”.
Ông Trần Trọng Kim cũng nói: “Những tư tưởng cao kỳ rộng rãi cho đến những điều tín ngưỡng thô thiển và các mối mê tín đê hạ ở chốn dân gian đều phần nhiều ở Đạo giáo mà ra. Một cái đạo mà lúc khởi nguyên thì thật là cao, mà rồi càng ngày càng sà thấp đến đỗi biến thành những tín ngưỡng rất kỳ quặc như phái thần tiên, chỉ chú lấy sự trường sinh bất lão (…) Như  vậy, một vấn đề đã được đặt ra là phải làm thế nào trừ bớt
những điều tin nhảm và giữ lại được những điều hay để gây thành một mối học thuật có lợi cho sự tin tưởng của người mình. Cái vấn đề ấy nay còn bỏ trống để dành cho những
học giả mai sau này, ai là người lưu tâm đến vận mệnh tương lai của chủng loại, phải cố sức mà giải quyết”.109
Nhà văn Trúc Khê cũng tỏ thắc mắc về cái hại của Đạo giáo: “Cái phần khả thủ của Đạo giáo là phần triết lý của nó, thế mà phần ấy càng ngày càng mờ tối thêm, không những người ngoài ít ai nghiên cứu đến mà chính những môn đồ của Đạo cũng bỏ mất cái phần tinh hoa siêu việt ấy mà chỉ chú ý ở những phương thuật rất là thiển lậu (…) như là cúng cáp quàng xiên, bùa bèn nhảm nhí (…) Nếu Đạo giáo rồi đây không có một tay lãnh tụ có chí cao xa lo sự chấn loát để nâng cao cho nền Đạo cao lên như xưa… thì cái ngày tiêu diệt của nó cũng sẽ chẳng xa vậy…”.
Thiển nghĩ, bất cứ cái học cao thâm nào, chỉ dành cho một hạng người có một tầm trí thức tế nhị sâu sắc mới mong lĩnh hội được, nếu lại đem trao cho những kẻ dưới mực tầm
thường thì sự hiểu lầm làm sao tránh khỏi.  Huống chi Lão học có những tư tưởng mập mờ kỳ ảo siêu linh, thật rất dễ khiến người ta lợi dụng để đem nó mà huyễn hoặc. Xem ngay như cái học của Thích Ca cũng không sao tránh khỏi vô số dị đoan đang làm hoen ố cửa thiền. Thật đúng theo lời của Lão Tử: không có cái hay nào mà không có cái dở kèm bên.110
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Mon Aug 11, 2014 6:59 pm

B. LÃO TỬ VÀ KHỔNG TỬ
__________
109.Đạo giáo: Nam Phong số 89.
110.“…et il est conseillé à ceux qui sont initiés ou qui en ont réalisé l’exactitude de ne pas les répandre à la légère, car ils sont dangereux pour le commun des hommes don’t l’intelligence est trop bornée pour en saisir le véritable sens”. A. David Néel (Le Enseignements secrets dans les sectes boudhistes tibétains, p.93) Ed. Adyar 1960.
 
Lão học và Khổng học Phê bình và đối chiếu hai học thuật trên đây, các học giả thường chia làm hai phái: một phái cho rằng Lão và Khổng là hai học thuyết nghịch nhau như nước với lửa, và một phái cho rằng hai học thuyết ấy bổ túc cho nhau, tuy vẫn kình chống với nhau từng điểm một.
*
* *
Thật vậy, nếu nhìn một cách thiển cận hơn, thì ai ai cũng thấy rõ hai giáo thuyết này nghịch hẳn nhau như hai đối cực.
Ông Đào Duy Anh, trong quyển  Việt Nam Văn hoá Sử cương  viết:  “Tư tưởng của Lão Trang là một thứ triết học cao siêu kỳ diệu, khiến trí não con người bay bổng lên những cảnh giới siêu  nhiên huyền diệu, chứ không như tư tưởng Nho giáo chỉ giữ tinh thần người ta ở trong thực tế tầm thường, ở trong vòng lễ giáo chật hẹp. Bởi vậy, trong lịch sử Trung cổ và Cận cổ, Nho giáo độc tôn, thế mà những nhà Nho lỗi lạc cũng thường
nghiên cứu học thuyết Lão Trang, mượn nó làm mối an ủi những nỗi thống khổ ở đời…”111.
Nhà văn Trúc Khê, trong bài Khảo cứu về Đạo giáo cũng viết: “Đạo giáo là một nền triết học rất sâu xa (…) Nước Tàu, từ đời Châu trở về sau, học thuyết được người ta rất tôn sùng là học thuyết của Nho giáo (…) Học thuyết ấy không phải là không có chỗ hay, nhưng mà theo nó, nó sẽ đưa người ta đến một đời sống phiền nhiễu bó buộc. Chống lại với Nho học, Lão học xướng lên một học thuyết khác… khuyên loài người nên sống một cách hồn nhiên, không ham muốn, không tranh giành, không có những lễ văn để trói buộc vào nhau, không có những mưu mô trí xảo để lừa lật nhau, cùng sống với nhau trong sự giản dị, thuần phác tự nhiên. Sự sống của loài người mà được như thế thì thật là hoàn thiện, hoàn mỹ, rất  hợp với Đạo lớn. Vậy kẻ cầm quyền thiên hạ phải cố làm sao giữ nguyên được cái trạng thái sinh hoạt như thế mãi, nghĩa là không bày biện, đặt ra thêm lễ văn, không tỏ ra mình là thánh trí, vì những cái đó chỉ làm loạn thiên hạ.
“Trái với đạo ấy, thì như Vũ, Thang, Văn, Vũ đều là những ông vua “hữu vi”, nào là chế Lễ, tác Nhạc, nào là sáng điển, lập pháp… đưa loài người từ chỗ giản dị đến chỗ phiền nhũng, từ chỗ thuần phác đến chỗ khôn vặt, chỉ làm loạn thiên hạ, không phải là cái phúc cho loài người… Như  thế, Vô Vi không phải chỉ riêng là cái yếu thuật của những nhà cầm đầu thiên hạ, mà chính là cái đạo chung cho tất cả mọi người.
“Với cái triết lý ấy, ai dám bảo là không hay (…) mặc dù nó không đưa loài người bước lên con đường tiến hoá. Nhưng mà, than  ôi, con đường mà người ta gọi là tiến hoá của loài người, hiện nay có tốt đẹp không, chúng ta đã trông thấy rõ bày trước mắt. Nó là đường đầy những tranh giành, những lường gạt, những lớn nuốt bé, khoẻ hiếp yếu, những trí thức khôn ngoan, phương pháp mầu nhiệm để tương khuynh tương loát, tương tàn tương sát lẫn nhau, nó là con đường đầy xương máu, đưa loài người đến cùng cực của thống khổ.
 
 
_________________
111.Trang 252: V.N.V.H.S.C (do nhà x.b. Bốn Phương tái bản) 1951.
- Trừ ra một vài đoạn mà nhà học giả Đào Duy Anh tỏ ra công bình trong khi trình bày học thuyết Lão Trang (một vài đoạn rất nhỏ nhặt), họ Đào về đại cương đã đứng trên lập trường Duy vật biện chứng, căn cứ vào thuyết giai cấp đấu tranh để phê bình Lão giáo, Khổng giáo và Phật giáo. Đó là điều sai lầm rất
đáng tiếc. Và đáng tiếc nhất là các nhà nghiên cứu sau này, phần nhiều lại căn cứ vào những ý kiến sai lầm ấy mà nhại lại mãi cái luận điệu sai lầm ấy đối với Tam giáo.
 
“Ta trông thấy tình trạng xã hội loài người hiện nay mà không thể nào không cảm tưởng đến cái triết lý tư tưởng của Lão học được. Loài người của chúng ta, chỉ vì không theo được cái triết ấy, cứ hăm hở đi tìm những con đường tự cho đó là tiến hoá, nhưng chính là những con đường đã lôi kéo nhau vào những kiếp vận đau thương”112.
*
* *
Nhà văn Nhật Bản, Okakuro Kakuro thì bảo rằng:  “Trước hết, cần phải nhớ rằng Lão giáo cũng như cái học kế nghiệp chính thống của nó là Thiền tông, tượng trưng sự cố gắng tinh thần cá nhân của người Trung Hoa miền Nam, chống lại cái tinh thần xã hội công cộng của Trung Hoa miền Bắc, tiêu biểu trong giáo lý Khổng giáo”113.
Bời vậy, mới có người cho rằng cái thuyết  “bất ngôn chi giáo”,  “bất tranh nhi thiện thắng”,  “dĩ đức báo oán”  là cái Dũng của người phương Nam mà đại diện là triết học của Lão Tử bao giờ cũng dùng  “nhu nhược”  mà “thắng cương cường”.  Dĩ nhiên không giống với cái Dũng của người phương Bắc mà trong Trung Dung đã miêu tả  “mặc áo giáp, mang vũ khí, nhìn cái chết không sờn lòng. Đấy là sức mạnh của phương Bắc, đó là lối cư xử của người mạnh về huyết khí”.
*
* *
Lão học  và Khổng học khởi nguyên đều ở một nguồn gốc mà ra:  Dịch học. Nhưng Lão Tử thì chủ trương ở chỗ “qui túc”, còn Khổng Tử thì chủ trương ở chỗ  “xuất phát”.  Cái chỗ thuận nghịch của hai đàng đã khác nhau thì cái chủ trương của hai đàng cũng vì đó mà khác nhau.  Lão Tử thì chủ trương tuyệt đối, nên không nói đến các giới tốt xấu, lành dữ, có không, dễ khó, dài ngắn, cao thấp, sanh tử. Xu hướng của Lão là ở nơi cảnh giới siêu nhiên, mà xây dựng trên nền tảng của Huyền học. Bản thể của cái học này là nơi Hư Vô, mục đích của nó là  “quy chân phản phác”  (歸真反樸) 114; còn Khổng học thì chủ trương tương đối nhị nguyên, nên có gái có trai,  có vợ có chồng, có cha có con, có vua có tôi, có trên có dưới, có tôn có ti, có nhỏ có lớn, có quý có tiện… khác nhau, và xây dựng trên nền tảng luân lý, mà xu hướng thì thiên về phương diện tích cực hữu vi, bản thể của nó là Nhân, mà mục đích là “khai vật thành dụ” như Chu Dịch115.
 
________________
112.Phổ thông Văn học: từ số 71 đến 82 (năm 1941).
113.“Il faut se rappeler d’abord que le Taoisme représente l’effort individual iste de l’esprit chinois méridional en opposition avec le communisme de la Chine septentrionale qui a son expression dans le Confucianisme”. p.53. Le Livre du Thé.
114.“Lấy lòng khoan dung nhu thuận để giáo hoá, không báo thù kẻ vô đạo. Đó là sức mạnh của p hương Nam. Đó là lối cư xử của người quân tử. Mặc áo giáp, mang vũ khí, nhìn cái chết không sờn lòng. Đó là sức mạnh của phương Bắc, đó là lối cư xử của người mạnh về huyết khí” (寬柔以教,不報無道.
南方之強也, 君子居之. 衽金革, 死而不厭, 北方之強也, 而強者居之) TRUNG DUNG (đệ thập chương). [“Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo. Nam phương chi cường dã, quân tử cư chi. Nhẫn kim cách, tử nhi bất yếm, Bắc phương chi cường dã, nhi cường giả cư chi” . (Goldfish)]
 
Nhưng Phùng Hữu Lan lại cho rằng hai hệ thống tư tưởng ấy,  tuy kình chống nhau, mà thực sự lại bồi bổ lẫn nhau. Dân chúng Trung Hoa nhờ ở giữa hai luồng tư tưởng dằng co
mãi ấy mà có một tâm hồn ôn hoà.  Vào khoảng thế kỷ thứ 3 và thứ 4 sau Tây lịch kỷ nguyên thì chính các nhà Lão học cố gắng để dung hoà Khổng và Lão. Người ta đặt cho họ cái tên là Tân Lão học (néo-taoiste) và Tân Khổng học (néo confucianiste). Hai luồng tư tưởng ấy chế ngự một các điều hoà tâm hồn dân tộc Trung Hoa hàng mười thế kỷ, và đã ảnh hưởng rất to lớn đến các văn nhân thi sĩ bất cứ thời đại nào. Hai tư tưởng ấy giống như là những luồng tư tưởng cổ điển (classicisme) và lãng mạn (romantisme) trong tư tưởng giới Tây phương.  Thử đọc thi phẩm của hai nhà thơ Đỗ Phủ và Lý Bạch đủ nhận thấy rõ sự khác nhau giữa Khổng học và Lão học. Hai bậc đại thi hào ấy cùng sống một thời đại (thế kỷ thứ 8 Tây lịch kỷ nguyên), họ tượng trưng được hai truyền thống tư
tưởng Trung Hoa trong những thi phẩm của họ. Hơn nữa, họ lại cũng là những người bạn tâm giao.
Cũng như Phùng Hữu Lan, nhà tư tưởng Tây phương cận đại Hermann de Keyserling cũng cho rằng Khổng Tử và  Lão Tử là đại diện cho hai lẽ cực đoan của một sự Toàn Thiện Toàn Mỹ trong tư tưởng giới Trung Hoa. Theo ông thì Khổng Tử (…) đại diện cho sự tận thiện của  “Sắc Giới”, còn Lão Tử… đại diện cho sự tận thiện  “Không Giới”, bởi vậy không thể đem ra mà đo lường so sánh bằng một thứ ly tấc chung 116 nào được cả. A.W. Watts, một cách rõ ràng hơn 117, cũng  bảo như Phùng Hữu Lan rằng: xã hội Trung Hoa cổ đều căn cứ trên hai nền tảng triết học truyền thống bổ túc nhau, là Khổng giáo và
Lão giáo.
Nói chung, thì Khổng giáo chi phối của mọi ước lệ ngôn ngữ, nghệ thuật 118, luân lý, pháp chế và lễ nghi để điều hoà mọi hoạt động tầm thường hằng ngày trong xã hội. Hay, nói Lão Tử trọng tự nhiên thường khuyên ta “Kiến tố, bão Phác” nên mới nói: “Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín” (Lời nói thành thật, tin cậy được, thì không trao chuốt; lời nói trau chuốt, thì không thành thật, tin cậy được).
_________________
115.Nhà Đạo học Tây phương René GUÉNON cũng nhận xét rằng: “En Chine où la doctrine primitivement constituée en un ensemble unique, fut alors diviséé en deux parties nettement distinctes: le taoisme, réservée à une élite et comprenent la Métaphysique pure et les sciences tradictionnelles d’ordre purement spéculatif, le confucianisme, commun à tous sans distinction, et ayant pour domaine les applications
pratiques et principalement sociales”. (p.28-29 La Crise du monde moderne) R. GUÉNON (1927) (Ed. Bossard).
116.“Kong-tsue et Lao-tsue représentent les pôles opposés de la perfection possible; le premier, la perfection dans les phénomènes, le deuxième la perfection dans le Sens; - l’un, la perfection dans le formé, l’autre dans la non-formé; par conséquent on ne peut les mesurer avec la même mesure” ( Voyage d’un Philosophe– Tome II, p.131) (Stock éd).
117.Le Bouddhisme Zen: A.W. Watts (p.26-27 – Payo – 1960).
118.Giả tạo, thật sự, phải chăng là Giả dối? Văn sĩ Pháp, Maurice DONNAY, có nói: “Il n’y a pas de société possible si elle n’est fondée sur l’hypocrisie” (Không thể có một xã hội nào mà thành lập được cả, nếu nó không căn cứ trên sự giả dối).
Và André GIDE cũng cho rằng: “C’est au plus hypocristes époque que l’art a le plus resplende l’hypocrisie est un des conditions de l’art. Le devoir du public c’est de contraindre l’artiste à l’hypocrisie”. (Chính ở vào những thời buổi giả dối nhất mà Nghệ thuật mới được huy hoàng nhất. Giả dối là một trong những điều kiện của Nghệ thuật. Phận sự của công chúng là bắt buộc nghệ sĩ phải giả dối).
 
Lời nói khéo, có nghệ thuật là cốt để làm vui lòng, bao giờ cũng là lời nói ru ngủ cái lòng hiếu danh vị kỷ của con người, chứ không có công dụng làm thức tỉnh cái giấc mộng triền miên của Bản ngã của con người trong giới Nhị Nguyên.
 
một cách khác, Khổng giáo chuyên chú về cái học ước lệ giả tạo của nhân vi, và chính căn cứ vào những nguyên  tắc ước lệ ấy mà người ta cố uốn nắn bọn trẻ cho chúng trở thành những “khuôn mẫu” mà xã hội qui định sẵn trước cho những hành vi tư tưởng của chúng.  Lý tưởng giáo dục của họ là cốt đào tạo những “chuyên viên tư tưởng” theo rập một khuôn khổ tư tưởng có sẵn…  Họ đem “uy chế xã hội” làm “thành một cái giường của chàng Procuste”119 để mà chế ngự tất cả mọi xu hướng tự do phóng túng và bất thường của con người.  Nhân thế con người tự định nghĩa lấy mình và định nghĩa vai trò
xã hội của mình bằng những công thức của Khổng học.
“Lão học, trái lại là dành cho những người lớn tuổi hơn, và nhất là cho những người đã rút lui khỏi hoạt động xã hội. Sự từ bỏ hoạt động xã hội là một bằng chứng rằng họ đã thực hiện được sự giải thoát nội tâm đối với những lề lối suy tư và ăn ở theo những ước lệ giả tạo bên ngoài. Bởi vậy, Lão giáo là một cuộc đi tìm một thứ hiểu biết tự nhiên, một thứ hiểu biết không giả tạo ước lệ mà do một sự thông cảm trực tiếp với nguồn sống chân thật của nội tâm” (A.W. WATTS).
Khổng học thì lại nhắm vào sự uốn nắn con người theo một thể thức cứng rắn của xã hội, một công việc chẳng những gây cho con người nhiều tranh chấp và thống khổ ở nội tâm, lại còn khiến cho con người  mất cả sự hồn nhiên chất phác  buổi ban đầu mà chỉ có những trẻ con mới có, và đôi khi, chỉ có những bậc thánh hay bậc hiền mới tìm lại được mà thôi.
Sự dằn co chống đối nhau giữa cá nhân và xã hội, lắm khi quá gắt gao, quá bức bách sẽ biến thành những chứng bệnh thần kinh, gây không biết bao là án mạng, tội ác điên cuồng… ở tâm hồn yếu đuối, và nhạy cảm.
Lão học có công dụng an ủi và chữa các thứ bệnh loạn tâm loạn óc ấy, những bệnh thần kinh mà phân tâm học ngày nay gọi là  “mặc cảm tội lỗi”  (complexe de culpabilité) với những hậu quả vô cùng đau thương và đồng thời đem con người trở  về với “tự nhiên” 自然, tức là trở về với con người thật của mình: “kiến tố, bão phác, thiểu tư, quả dục”.
Nhưng, ta không nên hiểu rằng Lão học là một công cuộc cách mạng chống lại với trật tự đã an bài. Lão học là một một phương pháp giải thoát cá nhân,  không thể thành công được bằng một cuộc cách mạng xã hội bên ngoài, bởi vì, một cuộc cách mạng xã hội thường chỉ là một việc thay thế một chế độ độc tài này bằng một chế độ độc tài khác, có khi còn độc tài hơn cái chế độ độc tài mà mình đã dày công tiêu diệt.
“Giải thoát những ước lệ giả tạo của xã hội, không có nghĩa là khinh thường ruồng bỏ nó, mà chính là đừng để bị nó phỉnh gạt mình. Tức là biết dùng nó như một công cụ, thay vì bị nó bắt mình làm món đồ chơi của nó”120.
_______________
119.Procuste: Theo thần thoại Hy Lạp: ngày xưa có chàng Procuste, một tướng cướp dữ tợn, - anh ta có sắm một cái giường sắt. Hễ bắt được một nạn nhân nào cũng đem đặt lên cái giường ấy: nếu vừa thì thôi, nhược bằng dài hơn thì bị chặt bớt, ngắn hơn thì bị kéo dài cho vừa vặn với cái giường. “Cái giường của Pocuste” là ám chỉ những khuôn khổ tàn nhẫn xã hội bắt mọi người đều phải theo mà sống, không được quyền vượt ra khỏi.
120.(…) “Se libérer des conventions ne sigifie pas les méprise, mais ne pas se laisser tromper par elles. C’est être capable de s’en servir comme d’un instrument, au lieu d’en être le jouet”. (p.26 -27. Le Bouddhisme Zen (A.W. WATTS).
 
*
* *
Lão học chuyên về  cái học  “phản bổn hoàn nguyên”121 返本還原, tức là trở về  Nguồn Sống Một  mà hiện tượng của nó là luôn luôn  biến động: hễ cực tịnh thì động sinh. Cái động này là cái động của Chân thể, chẳng phải cái động của Bản Ngã. Bởi vậy, mỗi thành kiến, mỗi thói quen, mỗi tạp tục dù là tốt đẹp đến đâu, đều chỉ là một sự hạn chế, một cái dừng lại, một cái ao tù của “dòng sông” Chân Thể (真體). Vì vậy, trở ngại lớn lao nhất trên con đường giác ngộ là  tập quán tư tưởng, tức là suy nghĩ hay phê phán theo một khuôn khổ hệ thống nào. Có cái vừa Nhân, lại biến thành Bất Nhân, có cái vừa là Thị, lại biến thành Phi… Thế nên, Lão học không chấp nhận có một cái Thị hay Phi tuyệt đối nào cả, mà trái lại, vượt lên trên cái “dòng” bất tuyệt của Thị Phi, Thiện Ác. Ta có thể nói rằng Lão học  là một cái học không thuyết, một giáo lý không có giáo điều nào cả. Và vì vậy, mới có cái thuyết  “bất ngôn chi giáo”  (不言之敎), và về sau Giáo lý Thiền Tông
với câu kệ bất hủ này:  “bất lập văn tự”,  “giáo ngoại biệt truyền”  (不立文字, 敎外別傳…)
Các nhà Đạo học Đông phương của bất cứ thời kỳ nào, cũng đều khuyên ta phải cố tránh những lối  “tư tưởng sẵn”  nhai đi nhái lại  những ý tưởng của kẻ khác mà không có một chút sáng tạo nào của mình pha vào.  Thói quen, bất cứ là một thói quen nào về tư tưởng hay tình cảm, đều là triệu chứng của sự Chết. “Nhơn chi sinh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường” (人之生也柔弱, 其死也堅強) (Ch.76).
Bởi vậy,  người đắc Đạo  道  là người sống được cái Sống của mình, tức là người có cái sống riêng biệt của mình, không bị ảnh hưởng bên ngoài đến làm sai lạc Bản Tánh  本性.122
Về  Vật chất, cũng như về  Tinh thần: chết, là mất bản tánh. Một số  tế  bào sống mà nhà khoa học vật lý đem ngâm vào một chất nước màu, bao giờ  cũng chống lại sự  xâm nhập
của chất màu  ấy. Chỉ  khi nào người ta kích động bằng điện lực làm cho nó  chết đi, thì chất màu liền xâm nhập ngay lập tức vào cơ thể  của tế  bào. Một tâm hồn “sống” cũng một thể: không bao giờ nên để bị ảnh hưởng bên ngoài xâm nhập được
123
.
__________________
121.Nghiên cứu về Đạo Giải thoát của Đông phương, nhà văn P. Masson-Oursel, trong bài tựa cho quyển “Le Métaphysique des Yogas” của Maryse Choisy, cũng nhận thấy” “On ne guérit de l’erreur (…) que par une voie régressive qui rend l’homme à lui même. C’est à dire à l’Absolu”. Người ta chỉ chữa được cái
bệnh mê lầm (…) bằng phương pháp thối ngược lại, trả cái con người của mình lại cho mình, nghĩa là trả nó lại cho Tuyệt Đối. (p.10 Le Métaphysique des Yogas par M. CHOISY. Préface de P. Masson – Oursel) (Ed. Mont Blanc).
122.Bản Tánh (l’Être véritable) chứ không phải Bản Ngã (le moi).
123
Trong quyển: “Một nghệ thuật sống”, chúng tôi đã có nói rõ và nhấn mạnh điểm này:  “(…) có tai mà chẳng biết nghe, chỉ nghe theo cái nghe của người, nghe theo thành kiến; có mắt mà không biết xem, chỉ xem theo cái xem của kẻ khác; (…) có óc mà chẳng biết suy, chỉ suy theo cái suy của kẻ khác;có tâm mà
không biết cảm, chỉ cảm theo cái cảm của kẻ khác (…) Sống, có hai nghĩa: sống cái Sống của mình và sống theo cái sống của kẻ khác. Sống theo mình là có sống. Sống theo kẻ khác, là chưa phải sống” … (trang 16, 17 – Khai Trí, 1960).
 
Những thói quen của tư tưởng (như những giáo lý này nọ, những hệ  thống tư tưởng hay luân lý, những tín điều của một tôn giáo này, tôn giáo nọ  v.v…) đều đóng vai trò “chất màu” đã nói trên124
. Nếu ta muốn nội thủ  được tinh thần, thì cần nhất là lo giải thoát tâm não ta những tập quán tư tưởng mà ta đã thọ lãnh nơi giáo dục từ thuở nhỏ…
*
*   *
Lịch trình diễn tiến tự nhiên về đời sống tinh thần tâm lý của con người có thể chia ra làm ba giai đoạn dưới đây:
a) một giai đoạn bắt đầu tạo sanh “bản ngã”;
b) một giai đoạn trưởng thành của “bản ngã”;
c) và giai đoạn cuối cùng là vượt khỏi “bản ngã” hay là tiêu diệt “bản ngã”, để trở về sáp nhập với cái Sống của Chân Thể, đồng với cái sống Vô Cùng của Trời Đất.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Fri Aug 15, 2014 11:49 am

a.-  Giai đoạn thứ nhất, con người còn ở trình độ sơ khai: người ta chưa có bản ngã,
hay nói cho đúng hơn, chưa có cá tánh rõ rệt.
Họ cảm giác theo phần đông, họ suy nghĩ theo phần đông. Họ bị ảnh hưởng bên ngoài rất dễ dàng: mê tín, dị đoan. Ai nói sao, họ cũng đinh ninh như thế: thói quen, tập tục chỉ huy
tất cả đời sống tâm trí của họ. Con người, trong giai đoạn này, thích bắt chước, thích chạy theo thời thượng, rất sợ dư luận khen chê, nghĩa là không dám làm điều già khác với thiên hạ chung quanh, không bao giờ biết hay dám suy nghĩ một mình, theo mình. Họ hoàn toàn là phản ứng trung thành của xã hội, của ngoại cảnh, hay nói một cách khác theo triết học duy vật, họ là “sản phẩm” của xã hội, của giáo dục, của chế độ, luân lý, tôn giáo, phong tục, và sách vở mà họ đọc qua… Họ là người có nhiều thành kiến, sống theo dư luận của phần đông. Họ sống như một đàn cừu, cúi đầu bước theo nhịp bước của
những con dẫn đạo, không dám lạc đàn. Hạng này mà đông, dễ dẫn đến những chế độ độc tài… Họ sống cần có người dẫn đạo.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Sat Aug 16, 2014 11:57 am

b.- Giai đoạn thứ hai: sự trưởng thành của “bản ngã”.
Bắt đầu bước qua giai đoạn này, cá tính con người lần lần xuất hiện. Những tánh hay bắt chước, chạy theo thời thượng, bắt đầu giảm lần và biến mất để lại một tâm hồn độc đáo,
___________________
124.(…) Le savant biologiste anglais, A. Backer (de l’Université de Londre), (…) avant constaté que les
cellules d’une tissu vivant plongeés dans une solution colorant, résistent à la pénétration de celle-ci dans leurs structures internes. Des qu’une action électrice violente entraine la mort de la cellule, l’envahissement du colorant dans l’édifice cellulaire instantané”.
 
có những sáng kiến và óc phê bình sâu sắc. Họ sẽ là người không  chịu làm tôi tớ cổ nhân nữa, họ dám đem tất cả những giá trị  điển hình xưa nay mà thẩm định lại: họ dám hoài nghi, và hoài nghi tất của, một thứ hoài nghi triết lý. Trong bất cứ ngành hoạt động nào, luôn luôn họ tỏ ra có những ý tưởng tân kỳ biệt lập: họ thích suy nghĩ theo mình mà không chịu suy nghĩ theo người. Họ  cố gắng để vượt ra khỏi những ảnh hưởng của ngoại giới, của những giá trị đã an bài.
Họ tỏ ra bao giờ cũng có một tâm hồn độc lập, sáng tạo và tự do. Nghĩa là họ có một tâm hồn Cách mạng, thích làm một người dẫn đạo, hơn là một người rụt rè phụ hoạ…
Nhưng, cái “bản ngã” ấy, một ngày kia, khi đã đến mức “chín muồi” rồi, thì đã tận dụng khả năng biểu hiện của nó, nó sẽ nhận thấy nó bị giam hãm nô lệ trong những công trình sáng tạo của chính nó, và như vậy, khi nhận thức rằng cái “bản ngã” ấy chỉ là một ảo vọng bị hạn chế trong giới nhị nguyên, rất hẹp hòi và lầm lạc… nó bắt đầu vượt ra khỏi đó, để đi tìm sự sáp nhập với cái Sống Một Vô cùng của Trời Đất nơi lòng họ, nghĩa là tìm mà thực hiện giai đoạn thứ ba của đời người.
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Thu Aug 21, 2014 10:18 am

c.-  Giai đoạn thứ  ba: giai đoạn vượt khỏi “bản ngã”, giai đoạn  “giải thoát”. Ở giai đoạn này, bản ngã không còn thấy mình là một vật riêng biệt nữa, mà là Một với Vạn Vật. Và đây là giai đoạn vượt khỏi giới Nhị Nguyên, giai đoạn mà Nhà Phật gọi là “đáo bỉ ngạn”, không còn thể dùng đến Lý Trí nữa; mà phải dùng đến một khiếu hiểu biết khác để nhập vào luồng sống của Đạo, tức là giai đoạn Huyền đồng cùng Vũ Trụ.
Lão học thuộc về giai đoạn thứ ba này, tức là giai đoạn cứu cánh của đời người125. Và đây là chỗ phân biệt giữa hai cái học Lão và Khổng.
*
* *
Khổng học như con sâu; Lão học như con bướm: cả hai đều là Một, khác nhau vì ở những giai đoạn trước và sau. Bản Ngã và Chân thể là Một, khác nhau ở chỗ Mê và Ngộ mà thôi126.
Khổng học như cái vỏ trứng gà bảo bọc con gà con chưa đúng sức nở. Nhưng đến thời kỳ con gà con đúng sức nở, thì Khổng học tức cái vỏ trứng kia lại trở thành trở ngại mà con gà con phải đả phá để sống, vì không làm thế thì nó phải chết. Cho nên phải phá bỏ cái vỏ trứng là điều kiện tối cần cho sự siêu xuất Chân Thể. Sở dĩ Lão học chống đối Khổng học cũng một thể: con gà phủ nhận cái vỏ trứng127, cái mầm non của hột lúa phủ nhận cái vỏ lúa của hột giống còn non.
Giá trị của mỗi giáo lý là chỗ biết áp dụng nó đúng thời đúng buổi.
 
_________________
125.La Comédie Psychologique. Carlo SUÁRÈ (p.308). Chez José Corti, 6 Rue de Clichy, Paris (1932); và Le Destin du XXè siècle: Ram LINSSEN (p.67-68-69). Ed. Etre Libre-Bruxelles (1949).
126.“Le Moi-apparent et le Moi-réel ne sont pas des entitiés différentes, l’une fausse et l’autre véridique
d’une suel et même entité”. (Jean HERBERT): p.19 “Les 10 tableaux du domestiquage de la vache”.
127.Xin so sánh câu này của André GIDE: “Mais tout ce qui d’abord protégesit le tendre germe le gêne aussitôt que la germination s’accomplit; et aucune croissance n’est possible qu’en faisant éclater ces gaines, ce qui l’emmaillotait d’abord.
 
*
* *
Cuộc cách mạng bản thân phải khởi từ trong ra ngoài trước: chưa đến thời kỳ nở mà vội đập phá vỏ trứng đi, là giết ngay con gà con chưa cứng cáp, chưa đến độ nở. Những cuộc
cách mạng bạo động do bên ngoài gây nên để phá cái “vỏ trứng gà” trước khi con gà con chưa đủ sức lớn, là hại nó chứ đâu phải là cứu nó. Đây là cái lầm to tát của loài người từ xưa đến nay vậy. Ban bố tự do cho những kẻ chưa đủ điều kiện tinh thần sống tự do, là việc làm nguy hiểm cho những người thụ hưởng tự do quá sớm ấy.
Vì vậy mà các bậc thầy Đông phương, thuộc về bậc siêu đẳng, không chịu truyền đạo một cách dễ dãi… Thường, người đệ tử phải đi cầu Thầy, chứ Thầy ít khi đi tìm đệ tử.
Lắm khi đi cầu, mà không được truyền dạy là khác! Ông Thầy đợi khi nào lòng người đệ tử thật chí thành mới truyền  Đạo cho, nhưng bao giờ cũng bắt người đệ tử bền chí đợi chờ, không được nóng tánh và thúc giục. Với người Đạo học Đông phương, thời gian là yếu tố cần thiết nhất cho sự khải phát Trí Huệ. Không bao giờ họ chấp thời gian: phải có đủ thời gian cho hoa  trổ,  cho trái chín… Về vấn đề văn hóa đối với người Đông phương, chấp thời gian là phản văn hóa. Cho nên không bao giờ họ có óc khuyến dụ, tuyên truyền Đạo học, trái lại, họ rất ghét sự dụ dẫn. Họ nói, hoặc họ viết, đó là họ đã làm xong phận sự rồi… Ai đồng thì ứng; không đồng, không ứng, tuyệt nhiên không bao giờ mong được người ta tán thành phụ hoạ một cách giả dối. Là vì, như ta đã thấy trên đây, họ không bao
giờ mong làm cái việc đập phá cái vỏ trứng khi con gà con chưa đủ sức nở…
Nhà văn Jean Gernier, trong quyển “L’Esprit du Tao” tỏ ra là người rất thâm hiểu Đạo học Đông phương khi ông viết:  “L’Exposé d’une doctrine, si favorable soit-il à cette
doctrine, ne signifie pas qu’on souhaite qu’elle soit adoptée. Les docteurs du Tao le souhaitaient eux-mêmes? Absolument pas, puisque l’apostolat était ce qui leur répugnait le plus”. Sự trình bày một giáo lý nào, dù mình có ưa thích nó bực nào, không có nghĩa là mong muốn nó được thừa nhận. Các nhà Đạo học có mong muốn như thế không? Tuyệt đối là không, sự truyền giáo là điều mà họ ghét nhất128.
Tóm lại, với Lão học ta đi vào một lật đổ tất cả  mọi giá trị thông thường  (renversement des valeurs). Nhà văn trứ danh hiện đại Tây phương, André GIDE có nói:  “Ah! J’ai vécu
trop prudemment jusqu’à ce jour! Il faut ête sans lois pour écouter la loi nouvelle. O délivrance! O liberté!” (“Chao ôi! Tôi đã sống quá dè dặt từ trước đến giờ! Phải không có luật lệ nào ràng buộc cả mới nghe được cái luật mới. Ôi giải thoát! Ôi tự do!”)129.
Không có một tâm hồn tự do, không làm sao giải thoát ra khỏi được những ràng buộc của Lý trí, của những lối suy tư theo giới nhị nguyên chia phân nhĩ ngã, của những giáo điều luân lý,
tôn giáo, đảng phái.
________________
L’Humanité chérit ses langes; mais elle ne pourra grandir qu’elle ne sache s’en délivrer. L’enfant servé
n’est pas ingrat s’il repousse de sein de sa mère. Ce n’est plus du lait qu’il lui faut (…) Dresse-toi nu, vaillant; fais craquer les gaines, écarte de toi les tuteurs; pour croitre droit tu n’as plus besoin que de l’élan de la sève et que de l’appel du soleil”. (Nouvelles Nourritures. p.155-156). Gallimart (Paris 1935)
128.L’Esprit du Tao (Flammarion) p.9.
129.Nouvelles Nourritures (p.22 Gallimard – 1935) “Ah! J’ai vécu…”
 
Khổng Tử bảo phải theo Nhân, Nghĩa… Lão Tử lại bảo “Tuyệt Nhân, khí Nghĩa”… Mặc Tử thì phải “thượng hiền”… Lão Tử lại bảo:  “bất thượng hiền”! Mặc trọng luân lý, đạo đức, thì Lão là vô luân lý, vô đạo đức hay sao? Không! Phải vượt lên trên Nhân, Nghĩa…
thì mới hiểu được chỗ mà Lão Tử bảo là Chí Nhân, Chí Nghĩa.  Phàm còn bảo là Nhân, thì cũng còn gọi Bất Nhân… Mà Nhân và Bất Nhân đều cũng như nhau, bởi cùng đồng một gốc mà ra, nghĩa là còn nhận thức trong vòng “Ngã chấp”130, còn sống trong cái sống bị chia phân (Vie-séparée). Trái lại, Lão học là cái học Huyền đồng,  玄同, trở về với cái Sống Một không còn phân chia Nhĩ Ngã (“vô kỷ, vô công, vô danh”) thì còn nói đến
Nhân, đến Nghĩa… làm gì nữa.
Khi mà mình đã đồng hoá với người yêu thì không còn nói đến chữ Yêu: cũng như người Chí Nhân đã vượt khỏi chữ Nhân
131.
Bởi vậy, không thể bảo rằng Khổng và Lão, giáo lý nào cao hơn giáo lý nào, vì sứ mạng hai bên đều khác nhau: không thể so sánh và lấy tiêu chuẩn chung nào mà đánh giá.
*
* *
Nhiều học giả Đông cũng như Tây hay so sánh cho rằng thuyết Quân bình của Lão Tử giống với thuyết Trung dung của Khổng Tử. Nhận xét thế thật không đúng.
Lão cũng như Khổng, đều cho rằng thái quá, cũng như bất cập đều là sai lầm, nhưng cái quân bình của Lão là một thứ Quân bình  động  và bao giờ cũng thiên về bên Âm, bên phần tiêu cực, vì Âm theo Lão Tử, thì gần với Đạo hơn, cho nên mới nói:  “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn”  (Huyền, rồi lại Huyền, đó là cửa vào của mọi huyền diệu trong Trời Đất) (玄之又玄,  衆妙之門), và thường ví Đạo, trong giới hiện tướng, như một bà Mẹ:  “Ngã độc dị ư nhơn, nhi quý Thực Mẫu”  我獨異於人,  而貴食母  (Ta riêng khác người đời: ta quý mẹ nuôi muôn loài), hoặc “Phục thủ kỳ mẫu, một thân bất
đãi”  復守其母,  沒身不殆  (Trở về với Mẹ, thân đến chết không nguy) (Ch.52). Chữ “Mẫu” đây ám chỉ Đạo. Sự sinh sinh hoá trong Tạo hoá đều ở trong Âm mà phát ra cả.
Vì vậy, Lão chủ trương đứng sau để mà đứng trước; đứng dưới để mà ngồi cao… Cho nên mới gọi đó là thứ Quân bình động, thấy thì như  “không làm gì cả”  mà kỳ thật “không gì là không làm”  (vô vi nhi vô bất vi (無為而無不為). Bởi vậy mới có câu: “tương dục hấp chi, tất cố trương chi,  tương dục nhược chi, tất cố cường chi; tương dục phế chi, tất cố hưng chi…  將欲歙之,  必固張之;  將欲弱之,  必固強之;  將欲廢之, 必固興之…  (Hòng muốn thu rút đó lại, là sắp mở rộng đó ra; hòng muốn làm yếu đó, là sắp làm đó mạnh lên; hòng muốn vứt bỏ đó, là sắp làm hưng khởi đó…) (Ch.36).  Như thế, ta thấy Lão học chủ trương phương pháp tiêu cực, lấy quẻ Phục ở Dịch Kinh làm chỗ
___________________
130.Tiếng của Nhà Phật: chấp có cái Ta riêng biệt nên mới có phân Nhĩ Ngã.
131.Chữ Nhân 仁 là do bộ Nhơn 人 và chữ Nhị 二, tức là phải có Hai người: người yêu và người được yêu.
 
“qui túc”. Âm cực, dương sinh, là Tịnh, mà kỳ thực là Dương, là Động:  “Trí hư cực, thủ tĩnh đốc” (致虛極, 守靜篤).
*

* *

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   Fri Aug 22, 2014 12:10 pm

C. ẢNH HƯỞNG SÁCH LÃO TỬ
Ảnh hưởng của sách Lão Tử
Dù là một quyển sách rất nhỏ,  chứa đựng trên năm nghìn lời, thế mà sách Lão Tử Đạo Đức kinh đã đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong lịch sử văn minh Trung Quốc.
Ngay từ thế kỷ thứ tư và thứ ba trước Tây lịch kỷ nguyên, ảnh hưởng tư tưởng của nó cũng đã to tát lắm rồi: chẳng những nó để ra một học thuyết vĩ đại của Trang Châu, nó lại còn kích thích một phần khá lớn những hệ thống tư tưởng khác, hay nói một cách khác, không một hệ thống tư tưởng nào sau nó mà không chịu ít nhiều ảnh hưởng của nó.
Trong những khoảng đầu Tây lịch kỷ nguyên, học thuyết Lão Tử dọn đường cho Phật giáo Đại thừa du nhập vào Trung Hoa, và đã xây đắp nền móng cho sự hoàn thành hai hệ thống tư tưởng to nhất ở cõi Á Đông, là Đạo giáo và giáo phái Thiền tông.
Từ đó sách Lão Tử không ngớt ảnh hưởng các triết gia Đông phương, dù là các bậc danh Nho. Ở Trung Hoa, Nhật Bản, và ngay ở Việt Nam từ trước đến giờ, không có một nhà văn lỗi lạc nào, không có một nghệ sĩ xuất chúng nào, không có một tư tưởng gia sâu sắc nào mà không chịu ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng của nó.
Chẳng những ảnh hưởng nó rất sâu nặng về đường tư tưởng , nó lại còn giúp rất nhiều con người trong đường xử thế khôn ngoan tế nhị132. Nó chẳng những an ủi, trung hoa dịu tâm hồn những con người quá đau khổ vì ngạt thở trong cái không khí quá gò bó của Lễ giáo khắc khe, những con người bị chế độ nghiêm khắc của gia đình, của xã hội, của văn minh cơ giới, giả tạo và ích kỷ làm thương tổn ê chề, nó lại còn giúp cho những con người nghệ sĩ và thi nhân, cái bí quyết sống tràn trề hạnh phúc trong sự huyền đồng cùng
tạo vật và thiên nhiên.
Tóm lại, sách Lão Tử có thể đem lại cho con người một sự Giải thoát toàn diện.
Nó giải thoát con người ra khỏi gông cùm của những ước lệ giả tạo của xã hội, của gia đình, những bảng giá trị tương đối và tạm thời của luân lý, tôn giáo, tập quán, chế độ…
Về phương diện cá nhân,nó giải phóng con người ra khỏi những nhỏ nhen bẩn chật và ích kỷ của một tâm hồn tư tâm, tư dục:  nguyên nhân của mọi đau khổ trên đời, và cũng là
nguyên nhân đã tạo ra những thứ văn minh giả tạo và ích kỷ, cốt thoả mãn những đòi hỏi thấp kém của những con người vị kỷ.
________________
132.Xem quyển “Thuật xử thế của người xưa” (cùng một tác giả).
 
Phần đông người Trung Hoa trí thức sở dĩ có được một tâm hồn lạc quan khoáng đạt và tự do, một “đầu óc tương đối”, không câu chấp, và đối với bất cứ mọi biến cố đau thương
tủi nhục nào trên đời cũng giữ được một tinh thần nhẫn nại, tin tưởng ở tương lai, luôn luôn thản nhiên điềm đạm… đều là nhờ nơi Lão học một phần lớn nào.
Ông Phan Kế Bính có nói: “Người ta nhận thấy rằng xưa nay những bậc  ẩn sĩ có những phẩm cách thanh cao, những hiệp khách có cái tâm trường hiệp liệt cùng những người biết nhẫn nại, ưa điềm tĩnh ở các xã hội Đông phương, đều do ảnh hưởng của Lão giáo mà ra cả”133.
Ông Nguyễn Văn Kiết, trong một bài diễn văn về Nho giáo và  Tây học, kết luận rằng:
“Riêng về Việt Nam Ta, thật khó tìm được một triết gia chân chính mặc dù người nước ta đã theo Nho giáo gần hai nghìn năm. Chỉ có được một vài thi sĩ nổi danh như Nguyễn Du, Ôn Như Hầu, Nguyễn Công Trứ… là vì họ tiêm nhiễm sâu sa tư tưởng của Phật giáo và Lão giáo”.
Trong quyển “Triết học Trung Quốc”, Chow Yih Ching quả quyết rằng  “ảnh hưởng của Lão giáo đối với tinh thần người Trung Hoa thật là to tát”134.
Trải qua không biết bao nhiêu thế kỷ, Lão học cũng như Phật học, khi thăng, khi giáng, khi thịnh, khi suy, được các triều vua khi chuộng khi vong, nhưng các học giả chân chính không bao giờ quên tra cứu đến nó.
Có người nghiên cứu và so sánh tinh thần phóng khoáng tự do của Lão học với tinh thần kỷ luật chặt chẽ của Khổng học, tỏ  ý vui mừng vì nhận thấy rằng trong những cuộc đại cách mạng từ xưa đến nay đã xảy ra trong lịch sử Trung Quốc để chống các triều đại độc tài, đều thường có bàn tay bí mật của các nhà Lão học ít nhiều trong đó.   Nói thế cũng có phần đúng, nhưng người có cái nhận xét tế nhị trên đây cũng nên nhớ rằng tinh thần Lão học là một ngọn gió lớn, nó muốn thổi đến đâu thì thổi, chưa nhất định nó sẽ theo một chiều hướng nào, một khi nó thấy có một cái gì đi quá đà, làm mất Quân bình, dù “cái
quá đà” ấy là thuộc lẽ Phải hay Quấy, dù thuộc về “cấp tiến” hay “thủ cựu”, nó sẽ không bao giờ buông tha, vì như  “cây cung mà giương ra, hễ cao thì nó làm cho thấp xuống, thấp thì nó nâng lên”, nó bớt chỗ dư bù chỗ thiếu”135.
Lão học không phải là cái học có thể nhốt mình  vào một phái đảng nào, một học thuyết hay một học phái nào, dù đó là học thuyết hay học phái của Lão Tử. Giáo thuyết Thiền tông (nếu có thể gọi là một giáo thuyết) do Lão học và Phật học đúc thành cũng tỏ ra rất trung thành với chủ trương  “bất ngôn chi giáo”  và  “tri  giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”trong những câu kệ trứ danh vô cùng khoáng đạt này:  “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”136.
*
_______________
133.Phổ thông Văn học: Số 82 (1941)
134/“Philosophie chinoise” (Press Universitaire de France).
135.Thiên chi đạo do trương cu dư: cao giả ức chi, hạ giả cử chi; hữu dư giả tổn chi, bất túc giả bổ chi”
(天之道其猶張弓與, 高者抑之, 下者擧之. 有餘者損之, 不足者補之) chương 77. ĐĐK.
136.敎外別傳, 不立文字: Ở ngoài cả giáo lý, ở ngoài cả truyền thống, không lệ thuộc hay căn cứ vào văn tự nào cả! Nghĩa là chân lý của Thiền, không thể diễn đạt dưới hình thức một giáo lý nào cả.
 
* *
Có người bảo rằng,  với chủ trương “Đạo Trời như cây cung mà giương ra… bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu”, có thể là nguyên lý chủ nghĩa xã hội kinh tế ngày nay mà Lão Tử đã phát minh và đề xướng từ trước… Nói thế không phải là không đúng, nhưng thực sự thì Lão Tử không phải là nhà kinh tế, ông chỉ đưa ra một nhận xét chung về cái luật thiên nhiên của Tạo hoá thôi! Con người  muốn khai thác và áp dụng nó vào ngành nào cũng được, cũng như người ta vịn vào những luật tự nhiên đã đề xướng trong Kinh Dịch để chế biến thành những cái học về Âm Dương, về Tướng số, về Y học, về Tâm lý, hay về Chánh
trị… Nghĩa là trong đủ cả mọi ngành hoạt động trí thức của con người.
*
* *
Có kẻ bảo rằng cái học của Lão Tử với cái thuyết Tự Nhiên của ông, quả không sao thích hợp với tình trạng sinh hoạt và tiến bộ càng ngày càng giả tạo của nhân loại ngày nay: nó là cái học phản tiến hoá, phản khoa học. Nói thế rất đúng.
Ở ngay vào thời Chiến Quốc, và trước nữa là Xuân Thu, văn minh loài người tương đối chưa phiền phức giả tạo như ngày nay, thế mà nó cũng không ảnh hưởng thay chiều được mảy may nào lòng tham dục vô bờ bến của con người. Chính ông tự nói: “Người đời đều có chỗ dùng, riêng ta ngu dốt thô lậu… Ta riêng khác người đời…”. Theo người đời, bất cứ là ở thời nào, nhất là ở thời buổi bây giờ, đại đa số đều chạy theo cái học trục vật, chạy theo cái học bên ngoài. Nên càng học, càng cảm thấy phiền phức đa đoan… Và cái mà người đời gọi là văn minh, là tiến bộ, phải chăng chỉ là một sự tranh đua để chiến thắng
ngoại vật? Phải chăng càng thắng được ngoại vật chừng nào, càng tỏ ra là kẻ “văn minh” chừng nấy? Theo Lão Tử thì chưa ắt thắng được ngoại vật là đã làm chủ được ngoại vật, mà thường là một sự trở lại làm tôi tớ cho ngoại vật cũng không chừng! Thắng ngoại vật, còn phải lo thắng mình trước đã, để khỏi làm nô lệ cho những  ngoại vật mà mình đã chiếm đoạt: “Thắng nhơn giả hữu lực, tự thắng giả cường”. Thắng người chỉ là người có sức, thắng mình mới là Mạnh.
Theo đời thì “càng học, càng ngày càng thêm”; theo Lão Tử thì “càng học, càng ngày càng bớt”, nghĩa là theo đời càng học càng “thêm” nhân dục, còn theo Đạo thì càng học càng ngày bớt nhân  dục:  “thiểu tư, quả dục”  (ít riêng tư, ít tham dục). Theo đời càng nhiều dục vọng, càng nhiều thèm khát; càng nhiều thèm khát, càng nhiều đấu tranh; càng nhiều đấu tranh, càng mau tiến hoá. Cho nên cái đạo  “Kiến tố, bão phác, thiểu tư, quả dục”  rõ là cái  đạo thoái hoá, vì nó là con đường từ bỏ , nghĩa là từ bỏ tất cả những gì là văn minh tiến bộ đã mang lại để giúp cho cái bản ngã của ta, tức là cái lòng tham dục không bờ bến của ta, càng ngày càng thêm lớn mạnh.  Nhưng dù sao, nếu biết lấy sự “trầm lặng” làm căn bản, lấy “giảm ước” là thông kỷ, và người đời nếu biết noi theo đó, một đôi phần, thì trong cảnh sinh hoạt hàng ngày, cũng như trên lịch sử nhân loại, người ta đã không phải đau lòng vì bao nhiêu cảnh tượng hung bạo tàn ác đã tiếp tục nhau mà xảy ra, càng ngày càng thêm khủng khiếp và ác liệt.
*
* *
Một số đông các nhà phê bình “cấp tiến” duy vật ở nước ta, như Lương Đức Thiệp, Đào Duy Anh… dựa vào thuyết “giai cấp đấu tranh” và “duy vật sử quan” cho rằng  “thuyết tiêu cực của Lão Tử biểu thị sự suy bại của đẳng cấp phong kiến quý tộc cũ (…) vì muốn phản  ứng lại tình thế, nhưng vì bất lực chỉ còn biết than phiền địa vị xã hội của mình đã nghiêng đổ…”137.
Đành rằng không có một học thuyết nào mà không ít nhiều do hoàn cảnh xã hội gây nên, nghĩa là đành rằng “thời thế tạo anh hùng”, nhưng “anh hùng cũng tạo thời thế”! Lối phê bình một chiều dễ sa vào nguỵ biện. Huống chi, thuyết “huyền đồng” của Lão Tử với những thuyết  “bất thượng hiền”, “dĩ đức báo oán”, “bất thiện giả ngô diệc thiện chi”, “bất tín giả ngô diệc tín chi”  nhất là “tổn hữu dư, bổ bất túc”… thì không thể gọi đó là của kẻ  “vì bất lực chỉ biết than phiền địa vị xã hội của mình bị nghiêng  đổ”  mà đề xướng.
Theo tôi, nhà học giả Tây phương E.V. Zenker có lẽ còn nhận xét Lão Tử đúng hơn:
“Lão Tử cũng do hoàn cảnh xã hội tạo nên, nhưng ông ta vượt ra ngoài con đường mà các nhà tư tưởng tiền sử Trung Hoa trước ông đã đi (…) Cái việc rất là phi thường nơi ông là ông đã hoàn toàn tách mình ra khỏi hoàn cảnh xã hội của ông, luôn cả cái người và giáo lý của ông, vượt lên cả tư tưởng của ông ra khỏi những gì do ngẫu nhiên và hoàn cảnh đương thời hạn định để trở nên một nhà tư tưởng “vượt thời gian” hơn hết trong những triết gia Trung Quốc”
138. Và bởi thế mà ông là người không được thời đại của ông
hiểu biết và hưởng ứng. “Lão Tử đâu phải chỉ sống cho một nước Trung Hoa và cho thời buổi của ông mà thôi đâu: ông là một trong những bậc thầy thuần tuý nhất và sâu sắc nhất của Nhân loại”139.
Còn René Bertrand thì quả quyết rằng:  “Vài dòng chữ hợp thành quyển sách ấy (Đạo Đức kinh) chứa đựng tất cả sự khôn ngoan trên quả đất này”140
.
________________
137
Xã hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp trang 401-408).
138.“Lao-tsé est aussi, sans aucun, l’enfant de son époque, et il s’écarte de la route qu’on suivie avant lui les Penseurs de la préhistoire chinoise (…) Ce qu’il y a de plus remarquable en lui c’est qu’il ait pu séparer complètement de sont temps, sa personne et sa doctrine, surmonter même dans sa pensées tout ce qui n’est du harsard et devenir malgré tout ce que son époque a pu déterminer chez lui, le plus intemporel de tous les
Philosophes Chinois”. (p.107 – Histoire de la Philosophie Chinoise)
139.“Lao-tsé n’a pas vécu seulement pour la Chine et pour son époque; il est in des maître les plus purs et les plus profonds de l’Humanité”. (p.107 – Hist. de la Philos. Chinoise) Payot – 1932.
140.“Les quelques lignes qui le composent contiennent toute la Sagesse de cette terre”. (p.305 – Sagesse

Perdue) Ariane – Paris 1946. 

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: LÃO TỬ TINH HOA   

Về Đầu Trang Go down
 
LÃO TỬ TINH HOA
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang :: Các Đạo Khác-
Chuyển đến