Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 MINH TÂM BẢO GIÁM

Go down 
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 10:07 am


1 - Ý nghĩa tác phẩm.
Tên gọi Minh Tâm Bảo Giám   có nghĩa là "gưong báu” (soi) sáng lòng” - gương báu chỉ những lời răn dạy của thánh hiền (những nhân vật trong xã hội và lịch sử có trí tuệ, nhân cách vượt trội mọi người) Lời răn dạy của các nhân vật ấy vốn chịu nhiều ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng chính thống trong xã hội Á Đông: Nho, Phật, Lão.

Những tư tưởng ấy tồn tại hăm lăm thế kỷ nay và đã góp phần tích cực cho đạo lý làm người. Ngày nav chúng không còn giữ nguyên vẹn giá trị giáo điều như buổi đầu mà phần lớn chỉ còn giá trị tham khảo. Tuy nhiên, chân lý của chúng vốn đã được loài người vận dụng vào cuộc sống suốt một thời gian dài, Vì vậy những ai cảm thấy dị ứng với chúng cũng có nghĩaa là dị ứng với nhân loại trong quá khứ, tức dị ứng với tiền nhân.

II - Nguồn gốc tác phẩm.
Sách Minh Tâm Bảo Giám xuất hiện ở Triều Tiên (Hàn Quốc) vào cuối thế kỷ XIII do một văn thần triều vua Trung Liệt vương biên soạn. Văn thần ấy là Thu Quát (1245 -1317) người Triều Tiên gốc Trung Quốc.
Tổ xa đời của Thu Quát là Thu Khải  giữ chức Môn hạ Thị trung (chức quan làm việc cạnh vua) ở Trung Quốc dưới triều Tống Cao Tông (1127 -1162). Bấy  giờ hầu hết lãnh thổ Trung Quốc đã về tay quân Kim (thuộc bộ tộc Nữ Chân, cư dân ở khoảng giữa sông Tùng Hoa và sông Áp Lục, tổ tiên của nhà Thanh sau nầy) lãnh thổ nước Liêu và nhà Tống đang bị thôn tính dần dần theo kiểu tằm ăn dâu (Kim Thái Tổ đã lên ngôi từ năm 1115) Cuối cùng vua tôi nhà Tống di tản về Phúc Kiến, trở thành nhà Nam Tống (1127-1179), thần phục nước Kim trong bước đường cùng, chấp nhận nhiều điều kiện cực kỳ nhục nhã.
Trong tình hình ấy, Thu Khái bỏ quan lưu vong sang Triều Tiên, định cư ở Hàm Hưng được khoảng năm đời, đến đời Thu Quát làm đến chức Dân bộ Thượng thư Nghệ văn quán Đại đề học (hàm nghĩa như Bộ Trưởng Văn Hóa ngàv nay).

Trong thời kỳ còn giữ chức Giáo dục Quốc Học, vào năm Trung Liệt 31, Thu Quát tiến hành chọn lọc tinh hoa chư tử biên soạn nên sách Minh Tâm Báo Giám gồm 260 câu, chia làm 19 thiên. Sách liền được hoan nghênh rộng rãi và được chọn làm tài liệu giảng dạy. Hiện nay tại thư viện Nhân Hưng trong khuôn viên từ đường họ Thu ở thành phố Đại Khâu, Hàn Ouốc còn bảo quản hơn 160 mảnh khắc gỗ sách Minh Tâm Bảo Giám của Thu Quát (tên người, tên đất trên đây được phiẻn âm theo Trung Ouổc).
Đến năm Cung Du Vương 12, cháu nội Thu Quát là Thu Suyền   quay về tổ quốc tham gia nghĩa quân Chu Nguyên Chương (1328 -1398). Khi nhà Minh thành lập (  1368) Thu Suyền trở thành công thần mở nước. Nhân cơ hội ấy, Thu Suyền bèn đưa sách Minh Tâm Bảo Giám của ông nội mình phổ biến vào Trung Quốc. Phạm Lập Bàn liền dựa theo sách ấy mở rộng thành tác phẩm có 20 thiên, chứa hơn 600 câu. Từ đó sách được biên tập, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần (nhu cầu bắt buộc của một đất nước mênh mông nhưng giao thông hạn chế  !) đặc biệt là vào thời Vạn Lịch (Minh Thần Tông 1573 -1619).

Các sách Minh Tâm Bảo Giám lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam trước đây phần lớn dựa theo bản Vạn Lịch (người ta không nhắc tên người biên soạn nữa có lẽ vì tác giả thực thụ chính là những người phát biểu ý kiến đã được trích dẫn). Người dùng sách ngày nay nên hiểu rằng bản gốc của Thu Ouát chỉ còn ý nghĩa lịch sử, còn ý nghĩa văn hóa thì thuộc về bản Vạn Lịch ra đời sau bản Thu Quát ngót hai trăm năm. Bản Vạn Lịch tuy chỉ nhiều hơn 1 thiên nhưng nội dung lại gấp đôi bản Thu Quát và chắc chắn là nó không cọng vào đó toàn văn bản Thu Quát.

III - Tình hình sách Minh Tâm Bảo Giám ở Việt Nam.
Hán học du nhập Việt Nam từ thời nội thuộc nhà Hán (179 trước công Nguyên). Các triều đại kế tiếp của Trung Quốc để duy trì ý thức vun đắp cho nền văn hóa và chính trị khu vực bằng tinh thần "đồng văn ". Do đó, sách vở Trung Ouốc lưu hành ở Việt Nam không thua kém gì ở Trung Ouốc nhờ sự qua lại khá thường xuyên của giới ngoại giao và giới doanh nhân hai nước. Tuy nhiên, sách Minh Tâm Bảo Giám có mặt nhan nhản trong dân gian hầu hết lại là sách chép tay gia truyền của những gia thục chứ các nhà xuất bản địa phương không hề tham gia phát hành, khắc in như đối với các sách khác - Phần lớn các ông Đồ lại thường dạy theo trí nhớ thành thử   ít đảm bào tính chính xác, thống nhất của văn bản. Tựu trung các sách ấy thuộc hai dòng chính:
- Dòng 1: Sách gồm 20 thiên (từ thiện Kế thiện đến thiên Phụ hạnh). Dân gian quen gọi sách nầy là "Minh Tâm mắc ".
- Dòng 2: Sách không chia thiên, chỉ rút những câu dễ hiểu ở cuốn trên, tổng số chữ chỉ còn phân nửa. Dân gian quen gọi sách nầy là Minh Tâm rẻ"
Cả hai sách ấy đều tập hợp những danh ngôn dạy đạo làm người, rất nhiều câu trong đó đã đi sâu vào cuộc sống đến mức người không hề học chữ Hán cũng vẫn nhắc đúng được nguyên văn.

IV - Tình hình dịch ra Việt ngữ sách Minh Tâm Bảo Giám.
Sách Minh Tâm Bảo Giám đã được Trương Vĩnh Ký (1837 -1898) dịch ra Vìệt ngữ từ cuối thế kỷ XIX. Sang thế kỷ XX có thêm các bản dịch của Tạ Thanh Bạch, Đoàn Mạnh Hy, Nguyễn Quốc Đoan, v,v... dựa vào những văn bản khác nhau nhưng đều có điểm chung là nguyên tác vốn từng được nhiều thể hệ thuộc lòng trước khi nó được giới dịch thuật chiếu cố (trong khi đại đa số dịch phẩm trên thị trường lại thường nhằm ý đồ giới thiệu những danh tác chưa được nhiều người biết đến nguyên bản).

Nay chúng tôi tuyển dịch và diễn ca dựa vào nguyên bản có vẻ nhiều chữ hơn (và có lẽ xưa hơn) từng được Trương Vĩnh Ký chọn dịch cách đây hơn trăm năm để giới thiệu lại bằng văn phong hiện đại.

Trong công việc này chúng tôi đã nhận được qua điện thoại và thư tín nhiều khích lệ tinh thần và nhiều giúp đỡ cụ thể của các bạn Hàn Quốc Trung, Châu Quàn Vũ, Từ Nguyệt Hoan, Phan Công Tuấn, Quản Bích Liên, cùng một số bạn khác. Nếu vắng họ, có lẽ sức ỳ của tuổi tác đã chặn chúng tôi lại giữa quãng đường khá hiểm trở của ngôn ngữ tác phẩm.

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 10:24 am

/ - Tuyển dịch thiên thứ 1: KẾ THIỆN
B. Dịch nghĩa: Làm điều thiện sẽ có điều thiện đáp lại. Làm điều ác sẽ gặp điều ác đáp lại. Nếu còn thấy không đáp lại (là vì) giờ giấc chưa đến.

c. Diễn ca:
Làm thiện gặp thiện,
Làm ác gặp ác.
Không gặp lúc này,
Thì gặp lúc khác.

2A. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa: Bình sinh làm điều thiện thì trời thêm phước cho - Nếu đúng là ngu bướng thì chịu tai ương. Làm thiện làm ác cuối cùng đều nhận báo ứng (dù) cao bay xa chạy cũng khó nấp.

c. Diễn ca:
Cả đời làm thiện, trời ban phước,
Nếu quen ngu bướng, hưởng điều xui.
Thiện ác cuối cùng đều báo ứng,
Cao bay xa chạy lối nào chui?

B.giải  nghĩa: Làm quan hay ở ẩn, cách nào chắc hay không chắc là tự mình biết. Họa phước sẽ từ đấy ra, lại còn phải hỏi ai? Thiện ác cuối cùng rồi có báo ứng, chỉ tranh nhau đến sớm với đến muộn thôi. Trong lúc rảnh rang hãy kiểm điểm việc đã làm trong đời. Lúc vắng lặng hãy nghĩ ngợi việc đã làm hằng ngày. Thường đem tinh thần "nhất tâm "   đi theo đường chân chính. Tự nhiên trời đất không làm sứt mẻ nhau đâu.

c. Điển ca:
Chọn đường chắc lép tự mình hay,
Họa phúc đấy ra chứ hỏi ai?
Thiện ác cuối cùng rồi báo ứng
Chỉ là xảy đến sớm hay chầy.
Rảnh rang kiểm điểm việc làm cũ,
Yên tĩnh nhớ ra chuyện mọi ngày.
Thường giữ vẹn lòng theo nẻo chính,
Tự nhiên trời đất xử không sai.

D. Chú thích: Nhất tấm: Đưa cái Tâm theo một hướng duy nhất. (Đạo gia dạy phải giữ cái Tâm theo ba trạng thái:
1 - Hư.
2- Nhất.
3- Tĩnh, để đưa nó về với Đạo.

B. Giải nghĩa: Ngạn ngữ nước Tấn nói: (Làm) theo điều thiện (khó) như lên (chỗ cao). (Làm) theo điều ác (dễ sa ngã) như ở chỗ sụp lở.

c. Diễn ca:
Làm theo điều thiện nhọc nhằn,
Như ở chỗ bằng leo ngược lên cao.
Làm theo điều ác dễ sao!
Như đứng chỗ lở, ngã nhào như chơi!

B. Dịch nghía: Thái Công (*) nói: Phải tham làm việc thiện. Đừng vui khi làm việc ác. Thấy việc thiện như khát (thấy nước) Nghe điều ác như bị điếc. Làm điều thiện rất vui (đó là) đạo lý lớn nhất.

c. diển ca:
Tham làm điều thiện là hay,
Thấy điều ác, chớ vui tay làm bừa.
Thấy thiện như khát thấy mưa,
Nghe ác giả điếc như chưa nghe gì.
Làm việc thiện, thích lạ kỳ!
Đó là đạo lý khó bì nổi đâu!

D. Chủ thích: Thái Công: Cách gọi tôn kính tuyệt đối dành cho Khương Tử Nha. Người ta cũng gọi Khương Thái Công (cụ họ Khương) Thái Công Vọng, Lã Vọng hay Lữ Vọng.
Tương truyền ông đợi thời bằng việc ngồi câu ở sông Vị Thủy mãi đến tuổi 72 mới được Vũ Vương mời làm quân sư, đánh vua Trụ tiêu diệt nhà Thương lập ra nhà Chu rồi cùng Chu Công tổ chức nền thịnh trị kéo dài 800 năm.

Giải nghĩa:
Tư Mã Ôn Công (*) nói: Tích lữy vàng để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc giữ nổi, tích lùy sách để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đọc được, không bằng tích lũy âm đức trong mờ mờ để làm kế lâu dài cho con cháu.

c. Diễn ca:
Dành vàng để lại đời sau,
Chắc gì con cháu cùng nhau giữ vàng.
Dành sách hay, dạy khôn ngoan,
Chắc gì con cháu giỏi giang? đọc nhiều?
Âm đức (**) qúy biết bao nhiêu!
Để lại cho nhiều, con cháu hưởng lâu...

D. Chú thích: Tư Mã Ôn Công: Tư Mã Quang, được phong Ôn Ouốc Công, nhà chính trị và giáo dục lỗi lạc, đỗ tiến sĩ, làm đến Tể tướng, sách Tư trị thống giám của ông rất nổi tiếng.
Âm đức: Thứ ơn đức không nổi bật (xóa nợ, cứu nạn, w...;

A 7. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Tâm tốt mệnh lại tốt. Phát đạt vinh hoa sớm. Tâm tốt mệnh không tốt. Một đời cũng ấm no. Mệnh tốt tâm không tốt. Đường phía trước e khó giữ. Tâm, mệnh đều không tốt. Cùng khó thảng tới già.

c. Diễn ca:
Tâm tốt, số mệnh tốt,
Sớm phát đạt vinh hoa.
Tâm tốt, số mệnh xấu,
Cũng sống được qua loa.
Số mệnh tốt, tâm xấu,
Nghèo khổ bé đến già.

B. Giải nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ để lòng trung hiếu lại cho con cháu là để lại cho chúng sự phát đạt. Kẻ để ngón trí xảo lại cho con cháu là để lại cho chúng mầm suy vong. Kẻ đem lòng khiêm nhường giao tiếp mọi việc thì mạnh. Kẻ dùng điều thiện để tự vệ thì tốt lành.

c. Diễn ca:
Dạy con trung hiếu, con vẻ vang,
Dạy con trí xảo, con dở dang.
Cư xử khiêm nhường là sức mạnh,
Giữ lòng lương thiện, đỡ nguy nan.

9A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Rộng ban ơn nghĩa, đến đâu lại chẳng gặp người (tử tế). Chớ kết oan gia, gặp họ chỗ đường hẻm khó lùi tránh.

c. Diễn ca:
Rộng gieo ơn nghĩa khắp nơi,
Đi đâu cũng gặp được người mến ta.
Oán thù nếu đã gây ra,
Vô vàn nguy hiểm rình ta đường đời.

ỉ OA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Trang Tử nói: Kẻ làm điều thiện cho ta, ta cũng làm điều thiện cho họ. Ta đã không ác, người có thể làm điều ác cho ta sao?

c. Diển ca:
Kẻ làm điều thiện cho ta,
Ta đáp bằng thiện, thế là đối  lưu.
Kẻ gây điều ác hại ta,
Ta đáp bằng thiện, ấy là ta khôn.
Ta không gây ác trả đòn,
Lẽ nào kẻ ác vẫn còn hại thêm?

B. Giải nghĩa: Thánh đế của Đông Nhạc (*) rũ ban lời dạy rằng: Trời đất không vì tình riêng, thần minh luôn xét, không vì tế lễ thịnh soạn mà gieo phước, không vì thất lễ mà gieo họa.
Người ta ở đời có thể không nên ỷ hết, có phước không nên hưởng hết, thấy kẻ bần cùng không nên khinh khi hết. Ba thứ ấy tuần hoàn trong trời đất giáp vòng rồi trở lại lúc đầu. Thế cho nên một ngày làm điều thiện, phước tuy chưa đến mà họa tự lánh xa, một ngày làm điều ác, họa tuy chưa đến mà phước tự lánh xa.
Người làm điều thiện như cỏ vườn xuân, không thấy sự lớn của nó nhưng mỗi ngày có lớn thêm. Người làm điều ác như viên đá mài dao, không thấy sự hao mòn của nó nhưng mỗi ngày có khuyết bớt.
Làm tổn hại người để thêm ích lợi cho mình nhất định phải nên e dè. Một mảy thiện cũng phải dành thuận lợi cho người, một mảy ác cũng phải khuyên người đừng làm. Ăn mặc tùy cơ may thì tự nhiên được vui sướng, tính toán số mạng làm chi? Coi bói làm chi? Khinh khi người ta là chuốc họa, tha thứ người ta là tạo phước. Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh, cẩn thận nghe lời ta thì thần kính quỷ phục.

Diễn Ca:
Trời đất nào có vị tình?
Luôn luôn xét nét, thần linh nào lười?
Lễ to đừng tưởng thần cười,
Lễ nhỏ thần chẳng giận người bỏ bê.
Ở đời, đắc thế phải dè,
Gặp phước thì cũng chớ hề hưởng tham.
Chớ rẻ rúng kẻ nghèo nàn,
Bởi ba điều ấy thế gian xoay vần.
Tự nhiên ai cũng có lần,
Sau cuộc xoay vần, vòng lại đầu tiên.
Một ngày ý thiện dấy lên,
Phước tuy chưa đến, họa liền lánh xa.
Một ngày điều ác gây ra,
Họa tuy chưa đến, phước đà lùi chân.
Làm thiện như cỏ vườn xuân,
Phước lớn dần dần, chẳng thể nhận ngay.
Làm ác như khối đá mài,
Phước hao mòn mãi lâu ngày khuyết to.
Phải nên cân nhắc, đắn đo,
Chớ hại người để lợi cho phần mình.
Hãy nên suy xét cho tinh,
Nhận ai chút thiện, tận tinh đền ơn.
Thấy ai hành động mất khôn,
Nhúng tay gây ác, ta dồn sức ngăn,
Ở đời, cái mặc cái ăn,
Được chăng hay chớ; lăng xăng nhọc người.
Xem số, coi bói khắp nơi,
Ham chuyện đổi đời, nghĩ thật tham lam.
Khinh khi người họa đến thân,
Tha thứ người, mới hưởng phần phước may.
Lưới trời lồng lộng bủa vây;
Mọi điều báo ứng thấy ngay tức thì.
Khuyên ai cẩn thận nhớ ghi,
Quỷ thần cũng phục, nói chi loài người .

Chú thích:
Thánh đế núi Đông Nhạc: Vị thần chí tôn cai quản núi Thái Sơn.

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Oct 26, 2018 1:42 pm


II-Tuyển dịch thiên thứ hai: THIÊN LÝ

1A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: ThầyThiệu Khang Tiết nói: Trời nghe được cả lúc tuyệt nhiên không có tiếng. Xanh xanh biết tìm nơi đâu. Không cao cũng không xa. Đều chỉ ở nơi lòng người. Lòng người sinh một ý nghĩ. Trời đất đều biết tất cả. Thiện ác nếu không thấy báo ứng. Tất là trời đất có tư vị.

c. Diễn ca:
Trời nghe thầm, chẳng cần lời,
Nhìn lên xanh ngắt, tìm trời ở đâu?
Chẳng xa mà cũng chẳng cao,
Bất cứ lòng nào, trời cũng đều nghe.
Lòng người chỉ mới lăm le,
Đất trời biết tất, răn đe chẳng từ.
Đất trời phải thật riêng tư,
Thì mới mặc xác nhân từ, ác ôn!

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Người hiền xưa nói: Nếu người làm điều không thiện mà được nổi tiếng; người không hại thì trời tất giết hắn. Trồng dưa được dưa. trồng đậu được đậu, lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt. Cày sâu trồng cạn còn có thiên tai, lợi mình hại người, há không bị quá báo?

c. Diễn ca:
Làm ác mà được rạng danh
Người tha, trời cũng phái đành giết thôi.
Gieo gì gặt nấy lâu rồi,
Xưa nay ai thoát lưới trời được đâu?
Ngay như trồng cạn, cày sâu,
Thiên tai trừng phạt, trời đâu tha nào?
Hại người kiếm lợi cho cao,
Trời không quả báo làm sao cho đành!

Giáo Sư Ngô Văn Lại
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Thu Nov 01, 2018 9:08 am

III- Tuyển địch thiên thứ ba: THUẬN MỆNH

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Làm hoặc sai người khác làm, thôi hoặc bảo người khác thôi. Làm hay thôi không phải là khả năng của con người vậy.

c. Diễn ca:
Mình làm hoặc bảo người làm,
Mình ngừng, bảo kẻ đang ham cũng ngừng.
Dù hăm hở, dù dửng dưng,
Đừng tưởng là bởi mình ưng thế mà!
Chính trời điều khiển từ xa,
Xui mình hăm hở hay là dửng dưng.

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Người hiền xưa nói: Người hiểu biết vận mệnh thấy lợi không động lòng. Gặp cái chết không oán, được một ngày qua một ngày, được một giờ qua một giờ. Đi gấp đi chậm thì đường phía trước cũng chỉ nhiều bấy nhiêu. Thời đến gió đưa tới gác Đằng Vương (*). Vận bỏ đi sét đánh bia Tiến Phước (**).

c. Diễn ca:
Vận mệnh khi đã rõ rồi,
Thấy lợi cũng chẳng đứng ngồi băn khoăn.
Coi thần chết như khách quen,
Nhưng với cuộc sống vẫn hằng nâng niu.
Một ngày qủa thật đáng yêu,
Một giờ thì cũng trời chiều chuộng ta.
Đường đời chẳng quản gần xa,
Đi gấp, đi chậm, vẫn là bấy nhiêu.
Gặp thời thì gió thuận chiều,
Vận hết gắng sức càng nhiều càng hư.

D. Chú thích: Gác Đằng Vương: tên một thắng cảnh ở huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây. Đời Đường, nhân dịp trùng tu, người ta tổ chức cuộc thi văn, qui tụ nhiều văn tài nổi tiếng đương thời. Vương Bột (650 - 675) bấy giờ mới 14 tuổi nên không được mời dự chính thức và được tin quá trễ nhưng nhờ gió thuận nên đến nơi vừa kịp giờ và giật giải nhất, trở thành tứ kiệt đời Đường (về sau, cũng chính "gió đưa" làm ông đắm thuyền trên đường sang thăm bố làm quan đô hộ Giao Châu, tức Việt Nam ngày nay).
Bia Tiến Phước: tên một bia cổ có giá trị nghệ thuật rất cao, người sành điệu đua nhau thuê rập mẫu. Có anh hàn sĩ lỡ vận nọ nhận được mối đặt hàng lớn, hăm hở gánh giấy đến chân núi, gặp mưa to quá phải ngủ trọ. Khuya hôm ấy sét đánh vỡ bia.

B. Giải nghĩa:
Liệt Tử (*) nói: Kẻ ngây, điếc, ngọng, câm nhà giàu to. Kẻ trí tuệ, thông minh lại chịu nghèo. Năm, tháng, ngày, giờ đều đăng tải ổn định rồi. Tỉnh ra do mệnh
(chứ) không do người. Trong mệnh có thời thì rốt cuộc phải có-trong mệnh không có thời thì đừng gượng tìm.

c. Diễn ca:
Ngây, điếc, câm, ngọng, nhà giàu,
Thông minh trí tuệ rớt vào..mồng tơi!
Thì ra số phận xấu chơi,
Kẻ không thời vận, cố bơi cũng chìm!

D. Chú thích: Liệt Tử: tên thật là Liệt Ngự Khấu, người đời Chu, triết gia chịu ảnh hưởng Đạo Giáo. Đệ tử ông chép lời thầy làm nên sách Liệt Tử.

4A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Hễ gặp việc gì không thể xử lý bằng sức, tức là do mệnh vậy. Cơ hội không bằng mệnh, trí không bằng phước. Họa không thể nhờ may mà khỏi, phước không thể cầu mong dễ dãi.

c. Diễn ca:
Dốc sức việc chả êm xuôi,
Tức là tại mệnh đấy thôi, đừng buồn!  
Cơ hội còn phải chịu nhường,
Trí tuệ chẳng dám coi thường phước may.
Mệnh xui họa gió tai bay,
Dù bậc anh tài, cũng khó vượt qua.
Mệnh không dành phước cho ta,
Dù cố nài nỉ, chỉ là uổng công.

Giáo Sư Ngô Văn Lại  
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Nov 02, 2018 1:33 pm

IV- Tuyển dịch thiên thứ tư: HIẾU HẠNH

IA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa Khổng Tử nói: Thân thể tóc da là thứ nhận của cha mẹ, không dám làm tổn thương, đó là bắt đầu lòng hiếu thảo vậy. Lập thân, làm đều đúng đạo, nêu tiếng tăm cho đời sau để làm vẻ vang cha mẹ là phần cuối của nết hiếu thảo vậy.
Con hiếu thờ cha me, cư xử phải hết mực cung kính, nuôi nấng phải hết mực vui vẻ, bệnh hoạn, phải hết mực lo lắng, lễ tang phải hết mực nghiêm túc.

Thế cho nên, kẻ không yêu mến người thân mà yêu mến người khác gọi là phản bội đạo đức, kẻ không tôn kính người thân mà tôn kính người khác gọi là phản bội lễ giáo.
Bậc quân tử phụng sự người thân hiếu thảo nên dời thành lòng trung với vua, phụng sự anh kính nhường nên dời thành lòng hòa thuận với người lớn hơn, ở nhà biết xử lý đúng nên cách quản lý dời đến việc quan, như vậy là lấy cái nết hình thành ở trong nhà mà tiếng tăm lập nên ở đời sau vậy.

c. Diễn ca:
Thân thể tóc da,
Cha mẹ cho ta.
Giữ sao lành lặn,
Hiếu thảo đấy mà!
Lớn lên giữa đời,
Danh tiếng vang xa.
Vẻ vang cha mẹ,
Cư xử nết na.
Phụng dưỡng vui vẻ,
Ốm đau xót xa.
Cúng tế nghiêm túc,
Bi ai tang ma...
Nếu yêu thiên hạ,
Hơn yêu mẹ cha.
Ấy là lỗi đạo,
Bất hiếu tối đa.
Nếu kính thiên hạ,
Hơn kính mẹ cha.
Ấy là trái lễ,
Rất đáng rầy la.
Làm con có hiếu,
Thờ vua mới trung.
Làm em nhường kính,
Mới trọng bề trên.
Việc nhà đúng đạo,
Việc quan mới nên.
Cư xử trọn vẹn,
Danh tiếng vang rền...

2A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Cha mẹ còn sống, con không nên đi chơi xa, nếu đi chơi phải có hướng cụ thể.

Tuổi của cha mẹ, con không thể không biết, một là để mừng, một là để sợ.

Cha còn sống, xem chí cha, cha mất, xem đức hạnh cha, ba năm không đổi đường lối của cha, có thể gọi là hiếu vậy.

c. Diễn ca:

Cha mẹ còn sống trên đời,

Phận con chớ có đi chơi mọi miền.

Nếu đi chơi có việc riêng,

Phải lưu địa chỉ, đỡ phiền mẹ cha.

Biết tuổi tác cha mẹ già,

Một là mừng rỡ, một là lo âu.

Cha còn, xem chí cao sâu,

Cha mất, xem nết bấy lâu cho tường.

Cư tang vẫn nhớ luôn luôn,

Thế là hiếu thảo, vẹn đường làm con.

SA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Thái Công nói: Hiếu thảo với song thân, con cũng hiếu thảo với mình. Bản thân mình đã không hiếu thảo, con làm sao hiếu thảo cho được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận, ngỗ nghịch lại sinh đứa ngỗ nghịch. Không tin hãy xem nước đầu thềm, nhỏ giọt, nhỏ giọt chẳng sai chệch.
c. Diễn ca:
Cha mẹ hiếu với ông bà,
Ắt con hiếu với mẹ cha sau này.
Cha mẹ bất hiếu thì gay,
Mong gì con cháu sau này hiếu cho?
Đời này ăn ở so đo,
Đời sau y hệt, chẳng lo sai lề.
Nước đầu thềm nhỏ một bề,
Giọt sau giọt trước chẳng hề chệch nhau.
4A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Cái mà thế tục gọi là bất hiếu có năm điều: Biếng lười tứ chi, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ nhất. Ham cờ bạc, thích uống rượu không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ hai. Ham của cải, chỉ nghĩ đến vợ con, không chiếu cố nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ ba. Buông thả cho sự ham muốn của tai mắt làm cho cha mẹ bị giết (*) đó là tội bất hiếu thứ tư. Thích to khỏe, đấu đấm đá làm nguy lây cha mẹ, đó là tội bất hiếu thứ năm.
c. Diễn ca: Năm điều bất hiếu trên đời,
Một là lười nhác, không nuôi sinh thành.
Hai là hưởng thụ một mình,
Bỏ bê cha mẹ mặc tình đói no.
Ba là nhiều vợ lắm kho,
Mặc cho cha mẹ ốm 0, nghèo nàn.
Bốn là mặc ý ngang tàng,
Để cho cha mẹ liên can, tội đời.
Năm là cậy khỏe đánh người,
Để cha mẹ phải thăm nuôi, bồi thường.
D. Chú thích: Cha mẹ bị giết: Ám chỉ hình phạt tru di tam tộc dành cho tội làm giặc.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Tue Nov 06, 2018 3:03 pm

V – Tuyển dịch thiên thứ năm: CHÍNH KỶ

1A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Sách Tính Lý nói: Thấy điều thiện của người mà tìm điều thiện của mình. Thấy điều ác của người mà tìm cái ác của mình, như thế mới đúng là có ích.
c. Diền ca:
Thấy người làm điều thiện,
Xem lại mình làm chưa?
Thấy người làm điều ác,
Xem mình có biết chừa?
Tự xét kỹ như thế,
Chả cầu cạnh đền chùa!

2A. Nguyên văn:
B. Dịch nghía: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ không tự trọng hứng lấy nhục nhã, kẻ không thấy sợ rước lấy tai họa, kẻ không tự mãn được có thêm, kẻ không tự cho mình đúng sẽ hiểu biết rộng.

c. Diền ca:
Không tự trọng ắt là chuốc nhục,
Không e dè, có lúc họa bay.
Kẻ không tự mãn mới đầy,
Không cho mình đúng mới hay biết nhiều.

SA. Nguyên văn:  
5. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Giấu cái thiện của người, đấy gọi là che người hiền. Nêu các ác của người, ấy là tiểu nhân. Nhắc điều thiện của người, cảm thấy mình có phần trong đó. Nhắc điều ác của người, cảm thấy mình chịu đựng nó.

c. Diển ca:
Không nêu điều thiện của người,
Là gìm kẻ tốt, đáng cười đáng chê. Người làm ác, mình hả hê,
Rêu rao, dè bỉu là bè tiểu nhân.
Hãy nên tu dưỡng bản thân,
Người làm thiện, tưởng có phần của ta.
Người làm ác, ta xót xa,
Cảm thấy như là mình chịu lỗi chung.

A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Kẻ nói ra điểu xấu của ta đáng thầy ta. Kẻ nói ra điều tốt của ta, đúng là kẻ hại ta.

C.Diễn ca:
Bảo ta xấu, đáng là thầy,
Kẻ khen ta tốt có ngày hại ta.

B. Giải nghĩa: Không Tử nói: Ba người đi tất có người thầy ta, chọn cái của người thiện mà theo, cái của người bất thiện mà đổi.

c. Diển ca:
Ba người cùng một chuyến đi,
Tất chẳng thiếu gì thầy dạy cho ta. Cái hay ta học thêm ra,
Cái dở, ta rọi xấu xa của mình.

6A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa:
Sách Cảnh Hạnh chép: ít nói thỉ bớt bị chê bai, ít tình dục thì giữ được thân mình. Kẻ giữ sự sống thì ít tình dục, kẻ giữ thân thì tránh danh. Không tình dục thì dễ, không danh thì khó. Kẻ ham danh giết thân họ. Kẻ nhiều của giết đời sau của họ.

c. Diển ca:
Nói ít, giảm tiếng gièm pha,
Bớt ham tình dục, thân ta mới bền.
Giữ mạng, bớt dục mới nên,
Giữ thân, hãm bớt lòng thèm tiếng tăm.
Muốn yên danh giá đừng ham,
Muốn nên dòng dõi, đừng tham của nhiều.

7A. Nguyên văn:  
B. giải nghĩa:
Đám đông thích, tất phải xét đã, đám đông ghét, tất phải xét đã.

c. Diển ca:
Nhiều người nhất trí hoan hô,
Kẻ khôn phải xét: Vi sao nhiều người?
Nhiều người la ó, chê cười,
Kẻ khôn phải xét ai người giật dây.

8A. Nguyên vẫn:
B. Giải nghĩa: Trong cuộc rượu mà không nói mới thật là người quân tử. Trên chuyện tiền nong mà tách bạch rõ ràng mới đúng là bậc trượng phu.

c. Diển ca:
Rượu vào thường phải lời ra,
Chỉ người quân từ mới là làm thinh.
Hùn hạp với kẻ phân minh,
Phần người, phần mình sòng phẳng mới hay.
Mới hợp tác được lâu ngày,
Bản lĩnh thế ấy, sánh tày trượng phu.

9A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Lão Tử nói: Kẻ hùng biện như ấp úng, kẻ quá khéo như vụng về. Lắng lòng thanh tĩnh cơ thể an thần. Miệng gièm nhiều lời, tự đánh mất thân.

Diễn ca:
Kẻ hùng biện thường hay ấp úng
Cố chọn lời thật đúng tình hình.
Kẻ khéo thực hiện công trình,
Thoạt trông dơ dáng dại hình khó ưa.
Bởi kiểu xưa vốn không giống thế,
Chưa quen nhìn, khó thể vừa lòng,
Kẻ giữ tâm thật lắng trong,
Tinh thần mới hòng tĩnh tại, bình an.
Kẻ lắm lời, dễ dàng sơ hở,
Siêng gièm pha lại tự hại mình.
Khiến không ai dám thật tình,
Khiến cho thiên hạ muốn khinh muốn nhờn.

10A. Nguyên văn:

B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Người chỉ lo ăn uống thì bị người ta coi là hèn hạ vì cho là nuôi chí nhỏ, bỏ chỉ lớn.

c. Diễn ca:
Kẻ gầy độ nhậu thường xuyên,
Tự hào mình thật sẵn tiền, dám tiêu.
Thế nhirng quên mất một điều,
Thiên hạ đánh giá, kèm nhiều băn khoăn.
Gã nầy chỉ biết ham ăn,
Còn bao việc khác, chẳng bằng ai đâu!

11A. Nguyên văn:

5. Giải nghĩa: Thái Công nói: Không nên xỏ giày giữa ruộng dưa, không nên chỉnh lại mũ dưới cành mận.

c. Diển ca:
Xỏ lại giày giữa ruộng dưa,
Lẽ nào chủ ruộng lại chưa nghi ngờ?
Đi dưới cành mận tình cờ,
Giơ tay chỉnh mũ, có vờ hái không?
Đấy là lời của Thái Công,
Dạy đừng làm những việc không khỏi ngờ.

12A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Mạnh Tử nói: Yêu người nhưng người không thân thiết lại là trái đạo Nhân. Trị người mà người ta không để cho trị là trái chữ Trí Lễ độ với người mà người không đáp lại là trái chữ Kính.

c. Diển ca:
Yêu người, người chẳng đáp tình,
Là chưa hết mình thể hiện chữ Nhân.
Trị người, chẳng lập trị an,
Ẩy thật rõ ràng chữ Trí chưa tinh.
Chào người, người vẫn làm thinh,
Ấy là chừ Kính hy sinh mất rồi!

Ỉ3A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa: Thiên Khúc Lễ nói: Tính ngạo không thể để cho lớn, không nên buông thả lòng ham muốn, không nên thỏa mãn về chí hướng, không nên vui vẻ đến tột độ.

c. Diễn ca:
Thói ngạo chớ để phình tO,
Lòng ham muốn, chớ mặc cho buông tuồng.
Đừng rằng chỉ hướng đã xong,
Đừng vui đầy ứ cả trong lẫn ngoài.

14A. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa: Tâm không gièm pha cong vẹo có thế ở chung với sấm sét. Tai không nghe lỗi của người, mắt không nhìn chỗ kém của người, miệng không nói điều lỗi của người, ngõ hầu thành người quân tử đấy! Trong nhà có sẵn quân tử thì ngoài cửa mới có quân tử đến. Trong nhà có sẵn tiểu nhân thì ngoài cửa mới có tiểu nhân đến.

c. Diễn ca:
Tâm không gièm siểm quanh co,
Thảnh thơi thân thể, chẳng lo oan trời.
Không nghe điều quấy của người,
Không nhìn chỗ dở, không cười điều sai.
Xứng cùng quân tử sánh vai,
Tiểu nhân đứng ngoài, chả dám mon men.

15A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa:
Sách Tố thư nói: Không gì ngắn ngủi bằng cái kiếm được hú họa. Không nỗi cô đơn nào hơn nỗi cô đơn tự cậy mình.

c. Diễn ca:
Chợt được đã vội tự hào,
Kiểu thành tích ấy giữ sao lâu dài?
Tự cho mình chẳng cần ai,
Dù bậc kỳ- tài vẫn mãi cô đơn...

16A. Nguyền văn:  
B. Giải nghĩa: Không Tử nói: Người quân tử thư thái nhưng không kiêu. Kẻ tiểu nhân kiêu nhưng không cảm thấy  thư thái.

c. Diển ca:
Quân tử thư thái hồn nhiên,
Không hề vênh váo rằng mình thảnh thơi.
Tiểu nhân ra vẻ hơn đời,
Nhưng lòng thấp thỏm sợ người khinh chê.

17A. Nguyên văn:  
B. Giải nghĩa:
Tuân Tử (*) nói: Thông minh tài trí không lấy nó bắt chẹt người ta. Cứu giúp chu cấp mở lối thoát nhanh không nên lấy đấy lấn lướt người ta. Cương nghị dũng cảm, không nên lấy nó gây tổn thương người ta. Không biết thì hỏi, không có khả năng thì học. Tuy có khả năng nhưng phải khiêm nhường thì mới là có đức.

c. Diễn ca:
Thông minh tài trí hơn đời,
Đừng đem đè bẹp những người vận đen.
Cứu người bế tắc, khó khăn,
Đừng nên vin đó, tỏ rằng đàn anh.
Cương nghị, dũng cảm đã đành,
Đừng nên đem nó gây thành tổn thương.
Không biết phải hỏi là thường,
Khả năng kém sút, tìm đường nâng cao.
Tài giỏi đạt đến bậc nào,
Khiêm nhường nếu kém, đức hao hụt liền.

D. Chú thích: Tuân Tử: tên người đồng thời là tên tác phẩm Đạo Đức học 33 thiên. Ông tên Tuân Huống sống đồng thời với Mạnh Tử và đề xướng thuyết Tính Ác, đối lập thuyết Tính Thiện của Mạnh Tử. Ông quan niệm con người là kẻ ác bẩm sinh, không có giáo dục thì chỉ là dã thú.

Giáo Sư Ngô Văn Lại  
Trung tuần tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Mon Nov 12, 2018 1:12 pm

VI - Tuyển dịch thiên thứ sáu: AN PHẬN

1 A. Nguyên văn:
B. Dịch nghía: Sách Cảnh Hạnh chép: Biết đủ thường vui, tham nhiều thì l0. Kẻ biết đủ, nghèo hèn cũng vui, kẻ không biết đủ, giàu sang vẫn lo. Biết đủ thường đủ, trọn đời không nhục. Biết dừng luôn dừng được, trọn đời không xấu hổ. So lên không đủ, so xuống có dư. Nếu cứ hướng xuống, tâm không có cảm giác không đủ.

c. Diễn ca:
Biết đủ lòng thấy vui,
Qúa tham mới lo sợ.
Biết đủ, nghèo vẫn vui,
Sợ thiếu, giàu vẫn khổ.
Biết đủ luôn thấy đủ,
Trọn đời chẳng nhuốc nhơ.
Biết dừng thường dừng được,
Trọn đời mặt đỡ trơ.
So lên, mình hơi thiếu,
So xuống, mình hơi thừa.
Cứ so xuống như thế,
Lòng ai thấy thiếu chưa?

2A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Giàu với sang chính là cái người ta ham muốn (nhưng) không lấy đạo lý để có được nó thì chẳng nên ở vào cảnh ngộ ấy. Nghèo với hèn là cái ai cũng ghét (nhưng) không lấy đạo lý để ghét thì không bỏ cảnh ấy. Bất nghĩa mà vừa giàu vừa sang, đối với ta (chỉ) như mây trôi.

c. Diễn ca:
Ai mà chẳng thích giàu sang;
Thể nhưng lỗi đạo, chẳng màng mới nên.
Ai mà chẳng ghét nghèo hèn,
Đạo trời bắt vậy, cố quen chẳng rời.
Giàu sang bắt nghĩa trên đời,
Ta coi như đám mây trời nổi trôi.

SA. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Tuân Tử nói: Kẻ tự biết mình thì không oán người, kẻ hiểu mệnh thì không oán trời. Kẻ oán người thì khốn cùng. Kẻ oán trời thì không có chí. Kẻ nghĩ đến điều nghĩa trước, nghĩ đến điều lợi sau thì vinh. Kẻ nghĩ đến điều lợi trước, nghĩ đến điều nghĩa sau thì nhục. Kẻ vinh thường gặp thông thoáng, kẻ nhục thường gặp khốn cùng. Kẻ thông thoáng thường chế ngự được người ta, kẻ khốn cùng thường bị người ta chế ngự. Đấy là sự phân biệt lớn giữa vinh với nhục vậy.

c. Diễn ca:
Biết mình thì chẳng oán người,
Biết vận mệnh chẳng oán trời làm chi.
Oán người thì khó gặp thì,
Oán trời, chỉ hưởng khó bì nổi ai.
Lo nghĩa trước lợi mới oai,
Vinh quang tồn tại lâu dài thế gian.
Lo lợi trước nghĩa là tàn,
Nhục nhã cản trở bảo toàn thân danh.
Vinh quang mọi việc đều thành,
Nhục nhã cam đành bế tắc mà thôi.
Có thành mới khống chế người,
Bế tắc cả đời bị khống chế luôn.
Nhục vinh phân biệt đôi đường,
Là điểu lớn nhất, phải thường lưu tâm.

4A. Nguyên văn:
B. Giải nghĩa: Khổng Tử nói: Người quân tử bền lòng chịu bế tắc. Kẻ tiểu nhân lạm dụng sự bế tắc.

c. Diễn ca:
Khốn cùng, quân tử bền lòng,
Tiểu nhân gặp khốn, chỉ mong làm xằng.
Khốn cùng nghị lực mới tăng,
Thói hư mới lộ, chê khen mới nhằm.

Giáo Sư Ngô Văn Lại


_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Fri Nov 23, 2018 2:15 pm

VII - Tuyển dịch thiên thứ bảy: TỒN TÂM
1A. Nguyên vàn:
3. Dịch nghía: Sách Cảnh Hạnh chép: Ngồi nhà kín như ngồi đường thông thoáng, điều khiển tấc lòng như đánh xe sáu ngựa.

c. Diễn ca:
Muốn giữ Tâm mãi còn trong sáng,
Ngồi phòng riêng, tưởng đứng Ngã năm.
Khách xuôi ngược, mắt đăm đăm,
Đừng nghĩ âm thầm che mắt thế gian.
Kìm giữ Tâm lại càng thêm khó,
Như ngựa đàn tung vó kéo xe,
Ghìm cương buộc ngựa phải nghe.
Ghìm Tâm đừng sổng có bề khó hơn.

2A. Nguyền vãn:
3. Dịch nghía: Thơ Kích Nhưỡng (*) nói: Nếu đem sức của trí tuệ mà tìm được giàu sang thì Trọng Ni (Không Tử) phù hợp việc phong hầu từ thời tuổi trẻ. Người đời không hiểu ý trời xanh nên để tâm mình buồn suông lúc nửa đêm.
c. Diễn ca:
Thông minh xoay nổi sang giàu.
Trọng Ni ắt đã phong hầu thời trai.
Hiểu ý trời, dễ mấy ai!
Thế nên mấy kẻ đêm dài xót xa.

D. Chú thích: Thơ Kích Nhưỡng: Nhưỡng là nhạc cụ gõ thời cổ, làm bằng gốm. Người xưa gõ vào nhưỡng để đọc thơ, vè trong các cuộc vui dân gian. Lối diễn xuất ấy gọi là Kích Nhưỡng Những bài hát ấy tập họp thành Kích Nhưỡng thi.


3A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghía: Phạm Trung Tuyên công dạy con em rằng: Người tuy rất ngu nhưng biết trách người thì sáng. Tuy có thông minh nhưng tha mình thì mê tối. Bọn ngươi chỉ nên đem cái lòng trách người để trách mình, cái lòng tha mình để tha người, không l0 không đạt đến địa vị thánh hiền.
c. Diễn ca:
Dù ai ngu dốt đến đâu.
Trách người sai quấy, mình mau khôn dần.
Kẻ thông minh cũng hóa đần,
Nếu luôn tha thứ những lần mình sai.
Chỉ nên tha thứ lỗi ai,
Lỗi mình mình nhận, đáng vai thánh hiền.

4A. Nguyền vãn:
3. Dịch nghía: Khổng Tử nói: Phải lấy vẻ ngu đần để giữ an toàn cho sự thông minh sắc sảo. Phải lấy sự nhún nhường để giữ an toàn cho cái công lao trùm thiên hạ. Phải giả bộ khiếp sợ để giữ an toàn cho sự dũng cảm rung đời. Hãy giữ vẻ khiêm tốn để giữ sự giàu có bốn biển.
c. Diễn ca:
Kẻ thông minh thật tuyệt vời,
Giả ngu thì mới sống đời bình yên.
Kẻ có công, muốn đỡ phiền,
Chớ nên khoe mẽ công mình lớn lao.
Sức thật khỏe, tài thật cao.
Làm bộ khiếp hãi, xiết bao an toàn!
Dẫu giàu ăn đứt thế gian.
Chịu lép giữ mạng, làm tàng dễ nguy.

5A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghía:
Tử Cống (*) nói: Nghèo mà không siểm nịnh, giàu mà không kiêu.
Khổng Tử nói: Nghèo mà không oán thì khó. Giàu mà không kiêu thì dễ.
c. Diễn ca:
Sống trên đời kẻ nghèo không nịnh
Giàu không kiêu, mới chính kẻ hay.
Nghèo mà không oán mới hay,
Giàu không kiêu, tập được ngay, khó gi:

D. Chú thích: Tử Cống: tên thật là Đoan Mộc Tứ (520 trước Công Nguyên - ?) học trò xuất sắc của Khổng Tử. có tài kinh doanh
A. Nguyền vãn:
3. Dịch nghía: Người xưa hình dáng tựa thú nhưng tâm có đức độ của bậc đại thánh. Người nay bề ngoài tựa người nhưng tâm địa của loài thú đâu lường xiết? Có tâm không có tướng, tướng sẽ được tâm sinh cho. Có tướng mà không có tâm, tướng sẽ mất theo tâm.
c. Diễn ca:
Người xưa trông tựa thú hoang,
Cái tâm thánh thiện sáng trong giữa đời.
Người nay đúng thật dáng người.
Lòng lang dạ sói có thừa đấy thôi!
Tâm tốt hình dáng khó coi,
Rõ tâm, ai xét bề ngoài làm chi?
Mẽ ngoài dẫu có uy nghi,
Nhưng tâm đen tối, còn gì mà mong?

3. Dịch nghĩa: Người đều nói ta vụng, ta cũng nói ta vụng. Có tai thường như điếc. có miệng không biết nói. Mày tự cho giỏi mạnh bề nào cũng có một lần vấp ngã. Vấp ngã để ngươi nghĩ ra rằng không bằng ta vụng. Trăm khéo trăm nên không bằng một vụng. Cái chưa đến,  đừng trông chờ. cái đã qua không l0 tính.
c. Diễn ca:
Người chê ta vụng - Xin vâng!
Nghe thì vô ích, nói năng được gì?
Người tự hào chẳng ai bì.
Bề gì lại chẳng có khi lỡ lầm?
Người vấp ngã mới định tâm,
Nhận ra ta vụng có phần tốt thay.
Một vụng ân đứt trăm hay.
Cả quá khứ, cả tương lai. Mặc đời.
Chú ý: Đoạn này chỉ minh họa chú thuyết Vô Vi của Đạo Giáo, mâu thuẫn với chủ thuyết trung hiếu của sách.
Sả.. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Thường đem ngày có nhớ ngày không có. đừng đợi lúc không có nhớ lúc có. Có tiền thường nhớ ngày không tiền, yên vui nên phòng lúc hoạn bệnh.
c. Diễn ca:
Ngày có nghĩ đến ngày không,
Đừng đợi lúc hết. nhớ nhung lúc còn.
Túi đầy nhớ túi rỗng không,
Yên  vui cần phải đề phòng ốm đau.
9ả. Nguyên vàn:

3. Dịch nghĩa: Sách Tố Thư nói: Kẻ làm ơn ít ỏi mà mong đền ơn hậu hĩ là không đáng đền đáp. Kẻ sang mà quên lúc hèn là bất nghĩa. Cầu cứu người khác thì nên tìm bậc đại trượng phu, giúp người nên giúp khi người túng ngặt nhất thời. Làm ơn không cầu bào đáp. cho người thì đừng tiếc nuối. Lòng không ám muội thì mọi cách trên đều trong sáng.
c. Diễn ca:
Cho khế chớ mong trả vàng.
Bất nghĩa là kẻ khi sang quên hèn.
Cậy nhờ, tránh kẻ nhỏ nhen.
Cứu giúp, chọn kẻ khó khăn nhất thời.
Đã cho, đừng tiếc ai ơi,
Đã làm ơn, chớ mong người trả ơn.
Cái Tâm đừng tính thiệt hơn.
Mọi điều trong sáng như gương cả mà!
10A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghĩa: Tôn Tư Mao (*) nói: Mật phải muốn lớn mà Tâm phải muốn nhỏ. Trí phải muốn tròn mà Hạnh phải muốn vuông. Ý luôn luôn nghĩ như ngày gặp địch, Tâm thường thấp thỏm như lúc qua cầu.
c. Diễn ca:
Mật phải lớn mà Tâm phải nhỏ,
Trí phải tròn mà Hạnh phải vuông.
Lo như thấy giặc vào vườn,
Sợ như cầu khỉ ngày thường phải qua.
D. Chú thích: Tôn Tư Mạo danh y thông thái đời Đường đồng thời là Đạo gia tên tuổi, được suy tôn là Tôn chân nhân.
Hàm ý ở đây là: Con người cần phải "lớn" mật để dám nghĩ dám làm đại sự cho đời. cho mình, mới nuôi được chí lớn. Cái Tâm phải "nhỏ" mới phát huy được lòng tử tế thực thụ (nghĩa gốc của Từ là bé bỏng, nhỏ nhắn, Tể là tinh tường, nhỏ nhoi).

A. Nguyên vãn: Trí phải "tròn" thi mới lăn được khắp nơi. mới chu toàn chu đáo mọi việc (nghĩa gốc: chu là vòng quanh, toàn là đầy đủ. đáo là đến).
Hạnh phải "vuông" thì mới ổn định không lập lờ. xử sự mới dứt khoát bằng tinh thần "bánh chưng ra góc".

3. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Thành thực thì không gặp lúc đen tối, dung thứ thì không gây cảm oán. hòa hảo thì không tạo thù hận, nén nhịn thì sẽ không gặp nhục nhã. Sợ phép nước sáng nào cũng vui. Khinh nhờn cửa công thì ngày nào cũng lo âu. lòng thận trọng thì đi khắp thiên hạ cũng được, khi khái cứng cỏi thi đi một bước nhỏ cũng khó khăn.
c. Diễn ca:
Chân thành đỡ gặp âm mưu.
Rộng lượng tha thứ. oán cừu ít sinh.
Ai thù chi kẻ hiền lành?
Người khéo nín nhịn đỡ thành nhuốc nhơ.
Sợ phép nước, sống phởn phơ.
Nhờn cửa quan, chẳng bao giờ được yên.
Thận trọng dễ dạo khắp miền,
Cứng đầu. một bước gặp phiền phức ngay.
12A. Nguyền vàn:
3. Dịch nghĩa: Chu Tử (*) nói: Giữ miệng như miệng bình, phòng ý như có thành che. Phải quấy chi vì mở miệng nhiều. Phiền não đều tại gương ra mặt.
Dienx ca:
Biết điều, bưng kín miệng bình,
Giữ ý như đặt trong thành chở che.
Cãi nhau vì nói khó nghe.
Bực vì ương bướng chẳng hề nhịn nhau.
D. Chú thích: Chu Tử: Tên thực là Chu Hi <1130 - 1200) đỗ tiến sĩ
làm quan trải 4 đời vua Tống, ông là nhân vật tiêu biểu cho nho học đời Tống, qui tụ nhiều danh nho uyên bác. Vua Khang Hi (Thanh Thánh Tổ (1662 - 1722) đã thờ chung ông vào nhóm Thập triết 10 đại đệ tử của Khổng Tử) Ông cũng được gọi là Chu Văn Công, tự Nguyên Hối, Trọng Hối. Hối Ông.

13A. Nguyên văn:

3. Dịch nghĩa: Sách Tố Thư nói: Kẻ có lỗi mà không biết là tự che vậy: Kẻ dùng lời nói chuốc oán là tự gây họa vậy:

c. Diễn ca:
Lỗi mình đã rõ sờ sờ,
Nếu không nhận biết là nhờ ém đi.
Nói lời gây oán làm chi!
Tự mình chuốc họa, khôn gì mà khôn?
14A. Nguyên văn:  
3. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Tham là đuổi bắt vật ở ngoài.
Muốn là tình động ở Trong. Quân tử yêu của nhưng lấy nó có đạo lý. Ouân tử lo đạo chứ không lo nghèo.
Quân tử mưu tính đạo lý chứ không mưu tính cái ăn. Quân tử bình thản thênh thang, tiểu nhân buồn lây lất. Lượng lớn phước cũng lớn, mưu sâu họa cũng sâu. Đừng làm kẻ hưởng phước đầu tiên, đừng làm kẻ gây họa trước hết. Mỗi người tự quét tuyết trước cửa. đừng bận tâm sương phủ mái nhà người khác. Lòng không phụ người thi mặt không có sắc thẹn.
c. Diễn ca:
Tham là vơ vét của đời.
Muốn là rạo rực chính nơi lòng mình
Của tiền, quân tử chẳng khinh,
Chỉ là tham muốn hợp tình mà thôi.
Quân tử vui với đạo trời,
Nghèo nàn cam chịu, chẳng lời thở than.
Lo đạo, chẳng lo cái ăn,
Lòng luôn bình thản, khó khăn mặc đời.
Tiểu nhân buồn bực không ngơi,
Độ lượng càng lớn. phước đời càng to.
Tâm cơ sâu, họa đáng l0.
Dù họa dù phước chớ so hơn người.
Việc minh l0 tốt mười mươi,
Đừng mãi chê cười thiên hạ xấu xa.
Lòng minh chẳng phụ người ta,
Khỏi l0 ngượng với kẻ xa người gần...
15A. Nguyên văn:  
3. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Đừng hận ruộng trước mắt hẹp, bước lùi một bước tự nhiên thấy rộng ra. Đời không có người trăm tuổi (Thế mà có kẻ) uổng công làm kế hoạch nghìn năm. Con cháu tự có phước của con cháu. (Cha ông)  đừng đem con cháu làm trâu ngựa.
c. Diễn ca:
Nhìn trước mắt, ruộng đồng quá hẹp,
Lùi bước chân, rộng đẹp ngay ra.
Mấy ai trăm tuổi đâu mà!
Hòng chi nghìn tuổi, thật là viển vông!
Cháu con có phước cháu con,
Bắt làm trâu ngựa, đời còn gì vui?
16A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghĩa: Trên đời không việc khó, chỉ khó do không chuyên tâm. Thà kết ý nghìn người chứ không kết oán với một người. Nhịn thứ việc khó nhịn, tha cho người không sáng suốt. Kẻ khép mình vào những qui định nhỏ nhặt không làm được chuyện vang danh. Kẻ ghét sự xấu hổ vặt vãnh không làm nên công lớn. Không cầu xin hay hơn bố thí. Giữ cẩn thận hay hơn ăn chay. Nói năng hời hợt thì đừng huênh hoang tranh biện, không tiền bạc chớ nên mời khách.
DIỄN CA:
Ở đời việc khó có là bao !
Chi tại người không để ý  vào.
Chiều ý nghìn người là việc đúng.
Chớ nên trái ý một ai nào.
Nhịn giỏi, nhìn điều gay khó nhất,
Tha hay. tha kẻ hiểu lơ mơ.
Trách vặt, khó nên vinh dự lớn,
E dè thẹn nhỏ, chẳng công to.
Không thèm cầu cạnh hơn ban phát.
Khéo giữ, chay đàn đỡ phải lo.
Lời mọn đừng nên ầm ỹ lắm,
Không tiền, mời khách chẳng hay ho.
17A. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Bài minh "Sáu điều hối hận" của Khấu Lai Công (*) viết:
- Ở chức quan làm điều quanh co tư túi, lúc mất quan thì hối hận.
- Giàu có không tiêu dùng tiện tặn, lúc nghèo thì hối hận.
- Có thế lực không tiếc một chút, lúc phạm lỗi thì hối hận.
- Thấy việc không học, đến lúc cần dùng thì hối hận.
Sau khi uống rượu buông lời cuồng ngông, lúc tỉnh lại hối hận.
- Lúc yên ổn không nghi ngơi, khi đau ốm lại hối hận.
Diễn ca:
Làm quan vun vén riêng tư.
Mất quan mới hối, ngồi thừ thở ra.
Lúc giàu, thỏa sửc tiêu pha,
Đến khi nghèo túng, xót xa làm gì!
Đắc thế chẳng chút nể vì.
Phạm lỗi mới hối. "thế" đi mất rồi!
Việc đáng học, cứ buông xuôi.
Đến khi gặp việc, làm hư lại buồn.
Khi say, lảm nhảm ngông cuồng,
Tỉnh ra lại hối hận suông, lộn giời
Lúc yên chẳng chịu nghỉ ngơi,
Bê tha bệnh hoạn, hối thời vô phương.
D. Chú thích: Khẩu Lai Công: tức Khẩu Chuẩn (961 -1023). Tể Tướng đời Tống, theo vua Chân Tông đi đánh Khiết Đan (nước Liêu) được phong tước Lai Ouốc Công nên gọi tắt là Khấu Lai Công.
I8A. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Phép yên vui của Tôn Cảnh Sơ là: Trà thô cơm nhạt, no thì thôi. Vá chỗ rách. che chó rét, ấm thì thôi. Nếu ba phần mới vừa nhưng chi thỏa mãn được hai, qua rồi thì thôi. Không tham lam. không ghen ghét, già rồi thì thôi.
c. Diễn ca:
Chẳng đòi đặc sản. danh trà.
Cứ no cái bụng là ta vừa lòng.
Áo rách vá lại là xong,
Gió lùa che kỹ, chẳng mong lắm tầng.
Việc đời đòi hỏi ba phần.
Hai phần thỏa mãn, chẳng cần hỏi thêm.
Tham lam, ganh tị đừng thèm,
Chỉ mong nhẹ nhõm ngày đêm đến già.
3. Dịch nghĩa: Sách ích Trí nói: Thà vô sự mà nhà nghèo, không hữu sự mà nhà giàu. Thà vô sự mà ở lều tranh, không hữu sự mà ở nơi vàng ngọc. Thà không bệnh mà ăn cơm hẩm hơn có bệnh mà dùng thuốc hay.
c. Diễn ca:
Thà là vô sự sống nghèo,
Không thèm hữu sự sống theo cảnh giàu.
Tranh tre trông trước hở sau,
Không thèm hữu sự chuốt trau ngọc vàng.
Cơm hẩm xơi lúc bình an.
Còn hơn bệnh tật thuốc thang đắt tiền.
20A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghĩa: Tâm yên thì ở nhà tranh cũng ổn. Tính ổn định thì ăn rễ rau cũng thấy thơm. Việc đời phải yên tĩnh mới thấy rõ. Tình người nhạt nhẽo mới lâu dài.
c. Diễn ca:
Tâm mà yên, lều tranh cũng ổn,
Tính vững vàng, rễ cải cũng thơm.
Lúc thanh tĩnh, rõ đời hơn.
Tình người thoang thoảng mới thơm lâu dài.
21A. Nguyên vàn:
3. Dịch nghĩa: Trong cảnh sóng gió lập thân khó. Cung cách ở đời cần phải buông thoáng.   muôn việc nhầm lẫn đều do vội vàng. Cái Tâm cần hướng đến sự nhàn nhã trong yên tĩnh. Đường gặp chỗ bằng phẳng người đi mới ổn. Người có giữ tính bình thường thì mới chịu đựng được nhìn nhau lâu. Thẳng thắn từ trưóc đến sau mới không hối tiếc, mới sinh cành nhánh lắm mối.
c. Diễn ca:
Trong sóng gió lập thân mới khó.
Nên ở đời chớ có bôn chôn.
Vội vàng thường hỏng việc luôn.
Nên chi cần giữ cho lòng lặng an.
Đi an toàn nhờ đường bằng phẳng.
Hiểu tình nhau mới đặng bền lâu.
Muốn đừng hối hận trước sau,
Chớ sinh lắm chuyện không đâu gây phiền.
22A. Nguyền vần:
3. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ trách người là không biết kết giao hết lòng. Kẻ tự tha minh thì không sửa lỗi. Có thế lực không được buộc người ta kẻo khi rơi khỏi đấy bị trẻ con réo tên thời bé.
c. Diễn ca:
Trách nhau bất cứ dịp nào,
Những người như thế, kết giao khó toàn.
Lỗi mình đã quá rõ ràng.
Xuê xoa thì muốn đàng hoàng còn lâu.
Đang khi thế lớn quyền cao.
Đừng bắt thiên hạ bảo sao phải chiều.
Kẻo khi quyền thế tiêu điều.
Trẻ con nhờn mặt bao nhiêu thì nhờn.
23Ả. Nguyên vàn:
3. Dịch nghĩa: Khổng Tử nói: Người quân tử làm thành cái tốt cho người, không làm thành cái xấu cho người. Kẻ tiểu nhân thì trái lại
c. Diễn ca:
Quân tử nghĩ tốt cho người,
Không tìm sơ hở chê cười nhỏ nhen.
Tiểu nhân kể xấu thành quen.
Tưởng chê thiên hạ. cái khen về mình.
24A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghĩa: Mạnh Tử nói: Người quân tử không oán trời, không trách người.
c. Diễn ca:
Nên, hư, quân tử trách mình
Với trời không oán, chẳng sinh trách người.
3. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Kẻ suốt ngày chỉ nghĩ đến điều trung hiếu người không biết nhưng trời tất biết. Kẻ chỉ biết hớn hở bám lấy ăn no mặc ấm, thân tuy yên nhưng con cháu họ mới sao ? Đem cái lòng yêu vợ con mà thờ cha mẹ tất trọn hiếu, đem cái lòng giữ gin giàu sang ra thờ vua thì sẽ tận trung, đem cái lòng trách người ra trách minh thi ít lỗi, đem cái lòng tha mình ra tha người thì trọn nghĩa giao du.
Ngươi tính chưa đến thể, ta bảo cho ngươi chắc gì ngươi hiểu đến thế? Ngươi tính chưa lâu dài, báo cho ngươi (tính lại) chắc gì có ích? Chăm chăm đeo đuổi lòng ham lợi thì phản bội đạo lý. Ý riêng đã bền chắc thì tiêu diệt lẽ công.
c. Diễn ca:
Chăm chăm trung hiếu đêm ngày,
Người dù chưa rõ, trời hay biết liền.
Chăm chăm no ấm cho mình,
mai sau ai biết sự tình cháu con?
Thứ tình yêu vợ thương con,
Đem thờ cha mẹ hiếu tròn vẹn ngay.
Bo bo phú quí khôn lay,
Thờ vua được vậy, tôi ngay nhất đời;
Trách người một, trách mình mười,
Sẽ ít sai quấy; người đời ngợi khen.
Với mình tha thứ vốn quen.
Với người cũng vậy, giao tình bền lâu.
Nếu ngươi chưa chịu nghĩ sâu.
Giảng cho ngươi biết. ngươi đâu... học bài?
Ngươi vụng tính kế lâu dài,
Giảng ra ngươi hẳn chê bai lắm điều.
Ham lợi lắm, lỗi đạo nhiều.
Ý riêng bám chặt, tiêu điều lẽ chung...
26A. Nguyên vãn:
3. Dịch nghía: Người hiểu lẽ vui sống, việc đừng để thêm việc. Người hiểu lẽ vui sống, bớt việc không bày việc. Người hiểu lẽ sống vui. việc lớn hóa việc nhỏ. Người hiểu lẽ sống vui việc nhỏ hóa không việc.
c. Diễn ca:
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Đừng nên làm việc đẻ thêm cho.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Đừng quen trò việc bé xé to.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Gặp việc to, thu bé cho xong.
Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
Việc nhỏ nhoi, coi nhẹ bằng không.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 294
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Mon Dec 10, 2018 7:06 pm

VIII - Tuyển dịch thiên thứ tám: GIỚI TÍNH

IA. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Tính người như nước, nước một khi nghiêng trút thì không thể trở lại được, tính một khi buông thả thì không thể trở về được. Ngăn nước phải dùng để ngừa, giữ tính phải dùng lễ phép. Nhịn cơn giận một lúc, đỡ bị mối lo trăm ngày. Nhịn được thì nhịn, ngừa được thì ngừa. Không nhịn không ngừa, việc nhỏ thành lớn. Tất cả mọi phiền não đều xảy ra từ chỗ không nhịn. Gặp cơ hội cùng đối đầu cảnh ngộ điều kỳ diệu là ở chỗ sáng suốt nhận thấy trước. Lời Phật qúy ở không cãi, sách nho quý ở không tranh. Lối dài đường vui sống, trên đời ít người đi. Nhịn là của báu của thân, không nhịn là tai ương của thân. Lưỡi mềm thường ở miệng, răng gãy chỉ vì cứng. Nghĩ ra chữ Nhịn ấy là phương thuốc hay cho việc vui sống.
Ngu đục sinh giận dữ đều do lẽ chẳng thông suốt.
Đừng thêm lửa lên Tâm, chỉ nên làm gió bên tai. Hay dở thì nhà nào cũng có, nóng lạnh nơi nào cũng như nhau. Phái quấy không có bộ mặt thật, cuối cùng tất cà đều trống rỗng.

c. Diễn ca: Nước đã trút khó bề hốt lại,
Tính đã buông, lỡ dại khó khôn.
Đắp đê chặn nước là hơn,
Đem lễ phép chận những cơn ngông cuồng.
Nén cơn giận cắt nguồn lo lắng.
Biết dè chừng, việc chẳng xé to.
Đối đầu cảnh ngộ phải lo,
Sáng suối nhận rõ gay go từ đầu.
Lời Phật dạy biết câu nhượng bộ,
Đạo nho khuyên hãy cố đừng tranh.
Đường đời vui, vắng bộ hành,
Nhịn là của báu trời dành cho ta.
Không nhịn nổi ấy là tai họa.
Lưỡi nhờ mềm nên đã còn nguyên.
Cứng như răng, bị gãy liền,
Gẫm ra giỏi nhịn là niềm sống vui
Nghĩ những kẻ vừa ngu vừa đục,
Dễ giận hờn, đầu óc khó thông.
Chớ nên thêm lửa vào lòng,
Thị phi như gió, thổi xong là rồi.
Tính ấm lạnh mọi nơi đều có,
Chuyện dở hay nhà đó như đây.
Chẳng gì chắc chắn xưa nay,
Cuối cùng mọi chuyện có ngày rỗng không.
2A. Nguyên văn:

Tử Trương (*)sắp lên đường, đến từ biệt Phu Tử xin ban cho một lời làm điều cốt yếu để sửa mình Phu Tử nói: Góc của trăm nết là Nhịn đứng đầu. Tử Trương nói: Nhịn thì thế nào ạ? Phu Tử nói: Bậc thiên tử nhịn được, nước không thiệt hại, vua chư hầu nhịn được, làm nên việc lớn. quan lại nhịn được, địa vị tiến xa. Anh em nhịn được, nhà giàu có. Vợ chông nhịn được, ăn ở trọn đời. Bạn bè nhịn được, danh nghĩa không bị vứt bỏ.
Bản thân nhịn được, không gặp tai họa.
Tử Trương nói: Không nhịn thì thế nào ạ? Khổng Tử đáp: Thiên tử không nhịn, nước trống rỗng, chư hầu không nhịn, tự mất xác, quan lại không nhịn, hình phạt giết, anh em không nhịn được, tách ra riêng, vợ chồng không nhịn được, tình nghĩa rời, bản thân không nhịn được, hoạn nạn không dứt.
Diễn ca:
Tử Trương cung kính hỏi Thầy.
Sửa mình cần giữ điều gì mới an?
Không Tử nói: Khắp thế gian.
Chỉ cần biết "nhẫn" là an tình hình.
Thiên tử "nhẫn”, nước thanh bình,
Chư hầu "nhẫn", địa phương mình mở mang.
Quan "nhẫn" địa vị thêm sang,
Anh em "nhẫn" cảnh nhà càng giàu ra.
Vợ chồng "nhẫn” tình thiết tha,
Bạn bè "nhẫn" mới vang xa tiếng lành
Ai đem chữ "nhẫn" giữ mình.
Thì bao tai họa thôi rình rập ngay.
Tử Trương tiếp tục hỏi Thầy:
Lỡ không "nhẫn" nổi. chuyện này ra sao?
Không Tử đáp: Hại rất to,
Thiên tử không "nhẫn" của kho chẳng đầy.
Chư hầu không "nhẫn" tan thây,
Quan lại không "nhẫn" dắt tay vào tù
Anh em không "nhẫn" là ngu.
Sống chung khá giả, phân cư hóa nghèo.
Vợ chồng không "nhẫn" càng eo.
Tình nghĩa lạnh nhạt, cám treo heo thèm.
Bản thân không "nhẫn" khó êm,
Nạn to, nạn nhỏ, ngày đêm khó trừ.

D. Chú thích: Tử Trương: tên thật là Chuyên Tôn Sư, một   trong số mười học trò xuất sắc của Khổng Tử, kém Khổng Tử 48 tuổi
3 Ả. Xguyên văn:
3. Dịch nghía: Trương Kính Phu nói: Kẻ dũng cảm nhỏ là do sự giận dữ của huyết khí. Kẻ dũng cảm lớn là do sự giận dữ vì lễ nghĩa. Giận dữ huyết khí không nên có. giận dữ lễ nghĩa không nên không có.
c. Diễn ca: Dũng cảm có cỡ hẳn hoi,
Cỡ nhỏ không ngoài tức khi nổi xung.
Cỡ lớn để tạo anh hùng,
Thấy trái lễ nghĩa, đùng đùng ra tay.
Cỡ nhỏ phải nén nhịn ngav,
Cỡ lớn mỗi ngày đều phải phát huy.
4A. Nguyên văn:
3. Dịch nghía: Người ác mắng người thiện, người thiện không nói lại, người thiện mà nói lại. đây đấy không trí tuệ. Không đáp tâm trong mát. kẻ mắng miệng nóng sôi, đúng như người nhổ lên trời, quay lại trúng nhằm mình. Nếu ta bị người mắng. Giả điếc nghe không rõ, ví như lửa chỗ trống, không chữa tự nhiên tắt. Lửa giận cũng như vậy. có vật gặp lửa ấy. Tâm ta đều trống không, mặc sức cho nó khua môi múa luỡi.

Diễn ca:
Kẻ ác mắng người thiện,
Người thiện chẳng trả lời.
Nếu người thiện đáp trả,
Hóa ra ngu cả đôi.
Làm thinh, tâm mát mẻ,
Chửi mắng, miệng nóng sôi.
Khác chi khạc nước bọt.
Cứ tưởng bôi bẩn trời.
Té ra bọt rơi xuống,
Mặt mũi hứng đầy thôi.
Nếu ta bị người mắng,
Giả điểc, nghe không trôi.
Khác chi lửa chỗ trống,
Không chữa cũng tắt rồi.
Lửa giận xem cũng vậy,
Chỉ cháy vật làm mồi.
Tâm ta nếu bỏ trống.
Kẻ ác mỏi lưỡi, môi...

Giáo Sư Ngô Văn Lợi
Trung tuân tháng 4, 2007.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Sat Dec 22, 2018 7:01 pm

IX- Tuyến dịch thiên thứ chín: KHUYẾN HỌC
IA. Nguyên văn:

3. Dịch nghĩa: Sách Tính Lý nói: Thứ tự của việc học là: học cho rộng, hỏi cho đúng, nghĩ cho kỹ, biện cho rõ, làm cho hăng.
c. Diễn ca: Đã theo cái nghiệp học hành,
Muốn học cho thành, thứ tự phân minh.
Học cho rộng khắp sử kinh,
Hỏi cho cặn kẽ, đinh ninh mọi điều.
Nghĩ suy thận trọng đúng chiều,
Biện cho sáng tỏ, cao siêu, vững bền.
Trải qua bốn bước kể trên,
Cuối cùng vận dụng, đẹp thêm cho đời.

2A. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Bài văn khuyến khích việc học của vua Huy Tông (*) viết: Học là tốt hay không học là tốt? Kẻ học như lúa như nếp, kẻ không học như lau như cỏ. Như lúa như nếp là gạo ngon của nước nhà, là vật báu lớn của cõi đời, như lau như cỏ thì kẻ cày căm ghét, kẻ bừa phiền bực. Ngày sau quay mặt vào tường hối hận về chuyện đó thì đã già rồi.

c. Diễn ca: Học là tốt, hay không là tốt?
Kẻ học như nếp lúa trên đời.
Kẻ dốt như có dại thôi,
Nếp, lúa cung cấp cho người ấm no.
Còn cỏ dại, phải lo dọn kỹ,
Phải cày bừa không nghỉ suốt mùa.
Mai sau kém cạnh ganh đua.
Ăn năn thì đã già nua mất rồi!

D. Chú thích: Huy Tông: tên thật là Triệu Cát, vua thứ 8 của nhà Bắc Tống, trị vì giai đoạn 1121- 11 25. Ông là hôn quân bất tài của một triều đại sa sút. Ouân Kim băt ông và con là vua Khâm Tông năm 1127 làm tù binh, sau chết ở nước Kim (Tuy nhiên, mối tình giữa ông với kỳ nữ Lý Sư Sư lại xứng đáng là thiên sử diễm tình giàu tính nhân văn: Sư Sư tử tiết để thoái tay Trương Hoằng Phạm là một tướng giỏi của nhà Tống *bán mình * cho quân Nguyên).

3A. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Sách Lễ Ký nói: Học một mình không có bạn thì quê mùa nông cạn. Sách là vốn liếng mang theo mình, tài năng là vật quý của nước nhà.
c. Diễn ca: Học mà thui thủi một thân,
Thiếu bạn thảo luận, quê dần người đi.
Có sách đời bớt ngu si,
Tài là vốn quý duy trì quốc gia.

4A. Nguyên văn:
Dịch nghĩa:
Muốn Nhân mà không muốn học thì cái ngu che lấp cái Nhân. Muôn Trí mà không muôn học thì sự phóng đãng che lấp cái Trí. Muốn Tín mà không muốn học thì cái hại che lấp cái Tín. Muốn ngay thẳng mà không muốn học thì sự thắt buộc che lấp cái ngay thẳng.
Muốn dũng cảm mà không muốn học thì sự quậy phá che lấp cái dũng cảm. Muốn cứng rắn mà không muốn học thì sự ngông cuồng che lấp cái cứng rắn.
c. Diễn ca: Muốn Nhân, không học thì ngu,
Bị người lạm dụng, mịt mù đúng sai.
Muốn Trí, không học nguy tai!
Nghĩ gì làm nấy, biết ai giữ kèm?
Muốn Tín, không học chẳng nghiêm.
Cho mình sẵn đúng, đâu tìm cái hay ?
Muốn Thẳng, không học cũng gay,
Khăng khăng tự tiện, cấm ai góp lời.
Muốn Dũng, không học hỏng đời,
Mặc tình gây- rối, chẳng nơi nào từ.
Muốn Cứng, không học càng hư,
Không quen nín nhịn, gần như điên cuồng.
Muốn đức hạnh tốt luôn luôn,
Phải thêm cái học mới vuông, mới tròn.
5A. Nguyên văn:

3. Dịch nghĩa: Gia Cát Vũ hầu (*) nói: Nết người quân tử là tĩnh để sửa mình, tiết kiệm để nuôi đức, không sống đạm bạc thì không lấy gì để làm sáng tỏ cái chí, không yên tĩnh thì không lấy gì đạt đến cao xa. Đã học thì phải tĩnh, có tài thì phải học, không học thì không lấy gì để mở rộng cái tài, không tĩnh thì không lấy gì để hoàn thành việc học. Ưa dễ dãi thì nghiên cứu không tinh, hấp tấp thì không xử lý được cái tính. Năm tháng cùng thời cơ qua nhanh, ý với tuổi bỏ đi bèn trở nên khô rụng, dẫu buồn than trong ngôi nhà nghèo liệu sẽ quay lại từ đầu sao kịp?
C. Điền ca: Không thanh tĩnh, khó sửa mình,
Không quen tiết kiệm, đức thành khó nuôi.
Thanh bần giúp chí sáng ngời,
Suy nghiệm xa vời, lòng cốt phải yên.
Học cần thanh tĩnh mới nên,
Có tài phải học mới bền khả năng.
Không học tài khó mở mang,
Chẳng được thanh tĩnh, học càng rối thêm.
Cái khó là cái đáng thèm,
Cái dễ làm mềm bản lĩnh tiến xa.
Muốn dùng cái Tĩnh tối đa,
Cái thói hấp tấp, tránh xa mới thành.
Thì giờ vun vút qua nhanh,
Thời cơ lỗi hẹn, tuổi xanh qua rồi!
Cành khô lá rụng, ôi thôi!
Hàn vi đâu dễ quay đầu lập thân?
D. Chú thích: Gia Cát Vũ hầu: tức Gia Cát Lượng (181 - 234) tự Khổng Minh, làm thừa tướng nước Thục thời Tam Quốc. Ông tiêu biểu một quân sư mưu kế hơn đời và là trung thần tận tụy tột độ. Ông được phong tước Vũ hầu.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Tue Jan 08, 2019 4:19 pm

X- Tuyến dịch thiên thứ mười: HUN TỬ
1Á. Nguyên văn:      
 
 
5. Dịch nghĩa:    Tư Mã Ôn Công nói: Nuôi con không dạy là li của cha. Dạy dỗ không nghiêm là thầy bê trễ. Cha dạy thầy nghiêm, cả hai không trục trặc gì mà học vấn không thành là tội của con. Ẩm áo no cơm giữa cõi người mà chuyện trò với bà con cứ trơ như cục đất.
Với cao không tới phải nhập vào lớp hạ lưu, có gặp bậc hiền tài cũng chẳng biết nói năng gì với họ. Khuyên đám hậu sinh ra sức tìm thầy dạy, gửi thân nơi thầy sáng suốt, đừng tự làm cho mình ngu muội. Một mai tiến lên đường công danh, tên họ mình được đám thấp hơn gọi là đàn anh. Trong nhà nếu chưa kết hôn cũng có người đẹp tự đến xin làm vợ. Khuyên các ngươi ai nấy sớm sửa chữa, đừng đợi đến già hối hận suông.
Diễn ca:
Nuôi con không dạy,
Là lỗi của cha.
Con học lơ là,
Thày chưa nỗ lực.
Cha, thầy đúng mực,
Học vấn vẫn chưa thành,
Tội con rành rành,
Vô phương chối bỏ.
Áo cơm sẵn có,
Thân thích quanh mình.
Trò chuyện huyên thiên,
Mình trơ cục đất:
Liệt vào hạng thấp,
Hạng cao khó chen.
Gặp bậc tài năng,
Đâu dám trò chuyện.
Mấy lời tâm nguyện,
Gởi lớp hậu sinh,
Đem hết sức mình,
Tim thầy cho tốt.
Đừng làm mình dốt,
May ra gp thời,
Tên đề bảng rồi,
Người người kính nể.
Dù nhà vắng vẻ,
Còn sống độc thân,
Thiếu chi giai nhân,
Nguyn câu cầm sắt.
Khuyên đừng để mất,
Cơ hội tu thân,
Vgià ăn năn,
Thẹn lây con cháu...
2A. Nguyên văn:  
3. Dịch nghĩa:

Bài văn khuyến khích việc học của quan Đồn điền họ Liễu (*) viết: Cha mẹ nuôi con mình mà không dạy là không yêu con mình. Tuy dạy mà không nghiêm cũng là không yêu con mình. Cha mẹ dạy mà không học là không yêu thân mình. Tuy học nhưng không siêng năng cũng là không yêu thân mình vậy. Thế cho nên nuôi con tất phải dạy, dạy thì tất phải nghiêm, nghiêm thì tất siêng, siêng thì tất nên. Học thì con dân quèn làm công khanh, không học thì con công khanh làm dân quèn. 

c. Diễn ca:

Nuôi con chỉ bởi bản năng,
Như thế cầm bằng nuôi vật cảnh thôi. Dạy con qua quít lấy rồi,
Kiểm tra lỏng lẻo ấy thời ghét con.
Còn như dạy- bảo ôn tồn,
Con không học, tức không còn quý thân. Có học nhưng thiếu chuyên cần,
Cũng là chẳng quý cái thân của mình. Nuôi con phải dạy, phải nghiêm,
Con mới thành nim an ủi mẹ cha.
Có học, nghèo cũng tiến xa,
Không học, giàu cũng hóa ra bần cùng.



D. Chú thích:

Quan Đồn điền họ Liễu: tức Liễu Kỳ Khanh (987 - 1055) người Phúc Kiến. Ông đỗ tiến sĩ làm đến chức Đồn điền viên ngoại lang nhưng giới ăn chơi quen gọi ông là Bảy Liễu (Liễu Thất). Ông là một từ gia lãng mạn, sống khá phóng túng.



5A. Nguyên văn:

3. Dịch nghĩa:    Bài n khuyên gắng học của quan Thị lang họ Bạch nói: Có ruộng không cy kho đụn rỗng. Có sách không dạy con cháu ngu. Kho đụn rỗng thì năm tháng thiếu hụt. Con cháu ngu thì lễ nghĩa lõng lẻo. Nếu là không cày cùng không dạy mới là lỗi của cha anh vậy.
c. Diễn ca:   Ruộng bỏ hoang, chẳng cấy cày,
Kho tàng trống rỗng; chàng hay  ho gì!
Có sách chẳng dạy chữ chi,
Mặc cho con cháu ngu si hư đời.
Chẳng cày, thiếu đói ngay  thôi!
Chẳng dạy, lễ nghĩa hỏng rồi nguy to!
Không cày, không dạy, đáng lo,
Phụ huynh xin hãy nhận cho lỗi mình!
4A. Nguyên văn:      
3. Dịch nghĩa:    Sách Hán thư nói: Chất vàng đầy rương không bằng dạy con một cuốn sách hay. Ban cho con nghìn vàng không bằng truyền cho con một nghề. Vui nhất không gì bằng dạy con.
c. Diễn ca:   Vàng ròng tích cóp đầy kho,
Không bâng kinh sử dạy cho con mình.
Ngàn vàng cho chúng mưu sinh,
Không bằng dạy chúng cho tinh một nghề.
Đọc sách, vui thú trăm b,
Dạy con quan trọng, chớ hề thờ ơ!


3. Dịch nghĩa:

Mạnh Tử nói: Người xưa đổi con mà dạy. Giữa cha con không nên trách điều chưa phải. Hễ trách là chia lìa, chia lìa là điều chẳng lành lớn nhất vậy. 



c. Diễn ca:

Đổi con mà dạy mới hay,
Mới dễ trách cứ, mới dày khôn ngoan.
Cha cưng con dễ làm càn,
Cha nghiêm, con oán, tình càng tệ thêm.
 Xui nên chia rẽ đôi bên,
Là điều bất hạnh khó quên nhất đời.



6A. Nguyên văn:

3. Dịch nghĩa:

Lã Vinh Công nói: Người đời mà trong nhà không có cha anh giỏi, ngoài đời không có thày bạn giỏi mà làm nên được là hiếm lắm.



c. Diễn ca:

Gẫm ra kẻ sống trên đời,
Cha, anh, thày, bạn, không người giỏi giang.
Tự thân vượt được khó khăn.
Bản lĩnh, nghị lực, ai bằng nổi đâu!



7A. Nguyên văn:

Thái Công nói: Con trai mà mất sự rèn dạy thì lớn lên ngu bưng. Con gái mà mất sự rèn dạy thì lớn lên vụng về sơ suất. Phương pháp dạy con trai là đừng nghe nói dối. Phương pháp dạy con gái là đừng để lìa xa mẹ. Con trai tuổi lớn chớ tập thói ham vui nhạc rượu. Con gái tuổi lớn đừng để chơi bời lêu lổng.
Cha nghiêm sinh con trai hiếu thảo. Mẹ nghiêm sinh con gái khéo léo. Thương con nên cho nhiều roi vọt, ghét con mới cho ăn uống nhiều. Thương con chẳng làm nó thành công, ghét con làm nó có năng lực.
Cành dâu uốn khi nhỏ, lớn to uốn không cong. Người ta đều yêu châu ngọc, ta yêu con cháu tài năng.
Diễn ca:
Con trai không dạy lớn đần,
Con gái không dạy, lớn thân vụng về.
Tránh đần, lời dối chớ nghe,
Tránh vụng, mẹ phải kè kè thường xuyên.
Con trai nhạc rượu chớ ghiền,
Con gái chớ để mặc tình rong chơi.
Cha nghiêm, trai mới nên người,
Mẹ nghiêm, gái mới khôn lời, khéo tay.
Thương con, roi vọt mới hay,
Quà nọ, bánh nầy, là kiểu ghét con.
Có thương, chưa chắc thành công.
Có ghét con mới dốc lòng chữa sai.
Muôn con nên đức, nên tài,
Phải chăm uốn nắn từ ngày lên ba.
Người đời yêu quý ngọc ngà,
Còn ta yêu quý con ta hin tài.
Dịch nghĩa :
Thiên Nội Tc nói: Hễ sinh con nên chọn ở bà mẹ có khả năng, tt tìm người khoan dung, hiền lành, ôn hòa cung kính, thận trọng mà ít lời, nhờ họ làm thy cho con. Con biết ăn cơm dạy cầm (đũa) tay phải. Con biết nói, con trai phải dạ, con gái phải vâng trai thắt lưng da, gái thắt lưng tơ. Lên sáu môi dạy đếm số và gọi tên phương hướng. Lên bảy tuổi, con trai con gái không ngồi chung chiếu, không ăn uống chung. Lên tám tuổi ra vào cửa ngõ cho đến ngồi chiếu, ăn uống tất phải làm sau người lớn, bắt đầu dạy tính kính trên nhường dưới. Đến chín tuổi, dạy chúng đếm ngày. Đến mười tuổi ra học thầy ngoài, ăn ngủ ở ngoài.
Diễn ca:
Phàm sinh con, phải nên chọn mẹ,
Mẹ khoan dung, nhỏ nhẹ, ôn hòa.
Kính nhường cẩn thận mới là,
Nói năng chừng mực, con ta nhận thầy.
Biết ăn uống, thầy bày tay phải,
Biết nói năng, trai dạ, gái vâng.
Dây da trai tập thắt lưng,
Dây tơ gái buộc, xem chừng hay hơn.
Lên sáu dạy biết phương đếm số,
Biết gọi tên đúng, rõ bốn phương.
Lên bảy, phái tính đã tường,
Ngồi khác chiếu giường, ăn uống tách riêng.
Lên tám tuổi học kiêng, học nể,
Lúc ăn ngồi, giữ lễ kính nhường.
Ra vào cửa ngõ, đi đường
Có người lớn, nhớ phải thường đi sau.
Chín tuổi học đếm làu ngày tháng.
Tuổi lên mười, bạo dạn ra ngoài.
Tự tin, tự tại như ai,
Đến nhà thầy ngụ, trổ tài khiêm cung.
Chữ bản lĩnh chưa từng đòi hỏi,
Nhưng tập quen, gắng gỏi từ đây.
Dù con là gái hay trai,
Giũa rèn thế ấy, hiền tài chẳng xa.
 
3. Dịch nghĩa:    Bài thơ cảnh báo con của Bàng Đức Công viết: Người đời có cả trăm nghề để theo. Chớ nên đến gần cửa cờ bạc. Nó có khả năng khiến anh hùng làm kẻ thấp hèn. Nó cởi bỏ giàu sang làm thành kẻ nghèo đói. Áo xống lam lũ, bạn thân cũng chê cười. Ruộng đất tiêu ma, cốt nhục gây gổ. Không tin thì chỉ cần xem trong làng xóm. Đã có nhiều người suy bại ngay trước mắt.
 
c. Diễn ca:    Trăm nghề trong cõi người đời,
Riêng nghê cờ bạc, con thời lánh xa.
Anh hùng nó biến hèn ra,
Giàu sang nó biến thành ma đói nghèo.
Áo quần xơ xác não nề,
Bạn bè cười giễu chẳng hề nể đâu!
Ruộng vườn bán sạch từ lâu,
Anh em gây gổ, quên câu ruột rà.
Chẳng tin ngó kỹ làng ta,
Tan cơ nát nghiệp phải là ít đâu!
1OA. Nguyên vàn:     —
 
Dịch nghĩa:
Cùng một dáng người, mấy dáng tâm,
Một loại trà cơm, một loại người.
Cùng lúc sáng trời, cùng lúc đêm về,
Mấy người giàu sang, mấy người nghèo?
Quân tử lúc nghèo có lễ nghĩa.
Tiểu nhân chợt giàu liền khinh nghèo.
Đông Hi Long Vương (*) thường đời,
Được thời chớ cười người mt thời.
Mọi người hãy nhẫn nại sống theo thời,
Biết người khác ai sng được trăm năm?
 
Diễn ca:
Bề ngoài ai cũng giống ai,
Bề trong, Tâm mới làm sai hạng người.
Tuy cùng nước hớp, cơm xơi,
Đi sáng về tối ta thời như nhau.
Thế nhưng đây khó, đó giàu,
Dù nghèo, quân tử giữ màu lễ nghi.
Tiểu nhân giàu có gặp thì,
Tỏ ngay cái vẻ khinh khi người nghèo.
Muôn đời sóng bin vẫn reo,
Vẫn nhìn nhân loại giàu nghèo luân phiên.
Vn chứng kiến cảnh đo điên,
Kẻ đắc thế liền cười kẻ sa cơ.
Theo thời, nấn ná ai ơi!
Thử xem thiên hạ ai người trăm năm?
 
Chú thích:
Đông Hải Long Vương: Vua Rồng cai qun biển Đông, được coi là kẻ có mặt thường xuyên liên tục trên đời, chứng kiến đy đủ các sự kiện.
 
Dịch nghĩa:
Đất xấu trổ hoa muộn,
Nghèo nàn phát phước chậm.
Đừng bảo rắn không sừng,
Thành rng chưa biết lúc nào.
Ch cn xem trăng trên trời,
Tròn trn có lúc khuyết.
 
c. Diễn ca:   Đất cằn hoa nở muộn,
Nghèo túng phước lâu về.
Rắn không sừng chớ chê,
Hóa rồng chẳng mấy chốc.
Trăng tuy tròn có lúc,
Cũng khuyết ngay đấy thôi!
 
12A. Nguyên văn:
 
B. Dịch nghĩa:   Muôn việc do trời chớ có gượng tìm. Sao phải khổ khổ dùng lòng tính mọi cách. Chớ nên mơ tưởng hão huyền ngoài ba bữa cơm. Gió no buồm rồi thì cuộn buồm lại. Bày ra việc rồi việc đẻ việc ngày nào mới xong? Lo hại người, lo người hại lại, lúc nào mới thôi? Mối oan nên cởi không nên thắt. Mỗi người hay quay đầu nhìn phía sau.

 
c. Diễn ca:

Gượng đòi chi nổi với trời?
Nhọc công xoay xở, việc đời vẫn trơ.
Được ăn ba ba thôi mơ;
Gió no buồm nghỉ, đừng chờ gió thêm.
Việc đẻ việc, lúc nào êm?
Hại người, người hại, ai thèm dừng đâu?
Ci oan, chớ thắt thêm sâu,
Hãy quay nhìn lại phía sau mỗi người.



13A. Nguyên văn:

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5980
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   Wed Jan 16, 2019 7:34 pm

XI - Tuyển dịch thiên thứ mười một: TĨNH TÂM
1A. Nguyên văn:  
B. Dịch nghĩa:    Bài Tư thế thông huấn viết: Phép trừng trị của cõi âm chậm mà không lọt. Thể chế của cõi dương gần mà có cách trốn thoát. Lưới cõi dương dày mà dễ lọt, lưới cõi âm thưa mà khó trốn thoát.
c. Diễn ca:    Phép trừng trị cõi âm khó thấy,
Chậm nhận ra nhưng lợi chắc sần.
Thể chế nhà nước thật gần,
Thiên hạ chỉ cần móc ngoặc thật hay.
Tha hồ xa chạy cao bay,
Lưới luật để sổng... cả bày nhà lươn!
Lưới cõi âm, vô phương móc ngoặc,
Mắt lưới thưa, bởi thật lâu đời.
Bao nhiêu tội dưới bầu trời,
Lưới không để lọt dù người bé, to...
2A. Nguyên văn:  
 
Sách Cảnh Hạnh chép: Viên ngọc không vết có thể làm thuế nước, con hiếu đễ có thể làm của gia bảo. Của gia bảo dùng rồi cũng có khi hết, trung hiếu đem hưởng không hết. Nhà hòa thuận thì nghèo cũng tốt, bất nghĩa thì giàu có ra gì? Chỉ còn một đứa con hiếu, cần gì con cháu nhiều? Cha không lo trong lòng vì con có hiếu, chồng không phiền não vì có vợ hiền. Nói nhiều nói bậy đều do rượu, tình nghĩa chấm dứt, người thân chia lìa chỉ vì tiền. Đã nhận cái vui bất thường thì nên phòng mối lo bất trắc. Vui tột độ thì buồn sinh ra, được yêu chiều phải nghĩ đến lúc chịu nhục, ở cảnh yên vui phải lo lúc nguy cấp. Vinh nhiều thì nhục lớn. Lợi nặng thì hại sâu, danh vọng càng lớn thì khiển trách càng nặng, công to tất có khi cùng khốn kỳ lạ.
Yêu lắm tất sử dụng lắm, khen lắm tất xỉ vả lắm, vui lắm tất lo lắm, xấu hổ lắm tất mất lắm. Ái ân sinh phiền não, đeo đuổi đại trượng phu. Trước sân mọc lên cỏ báo điềm tốt. Dù có gặp việc tốt cũng không bằng không có.
 
Diễn ca:
Ngọc quý có thể thay quốc thuế (*),
Gia bảo là con hiếu trong nhà.
Ngọc dùng sẽ hết thôi mà!
Chỉ điều trung hiếu mới là bền lâu.
 
Nhà bất nghĩa, càng giàu càng bậy.
Nhà thuận hòa. nghèo mấy vẫn hay.
Chỉ cần một đứa thảo ngay.
Đâu cần chi phải đông đầy cháu con?
Con hiếu thảo, cha không l0 lắng,
Vợ hiền hòa, chồng chẳng đau đầu.
Lắm lời lải nhải đâu đâu.
Chẳng qua lỡ  uống phải bầu Đỗ Khang (*).
Chỗ anh em. họ hàng xào xáo,
Chỉ vì không chu đáo tiền nong.
Khi niềm vui rộn rã lòng.
Phải nên đề phòng sẽ gặp lo âu.
Vui vẻ lắm, âu sầu càng lắm,
Nhục đến ngay say đắm yêu vì.
Sống yên phải tính sẽ nguy.
Vẻ vang phải liệu gặp kỳ nhuốc nhơ.
Lợi càng nặng, hại chờ càng nặng.
Danh t0 thì khó tránh trách phiền.
Được yêu, cuộc sống khó yên.
Được khen tất phải hứng liền chê bai.
Vui mừng cứ đan cài lo lắng.
Xấu hổ luôn, ắt hẳn trơ lì
 Chừng như xấu hổ mất đi,
Nhưng nào có ích được gì cho cam!
Chuyện ân ái dễ làm mệt óc.
Chẳng buông tha những bậc trượng phu.
Cho dù may mắn có dư,
Việc hay thì cũng chẳng như đừng làm.
 
D. Chú thích:       Quốc thuế: thuế nước, tức cống phẩm của nước nhỏ nộp nước lớn để tỏ ý thần phục.
Đỗ Khang: tên người nấu rượu đầu tiền, được dùng làm tiếng lóng chỉ rượu.
(Chủ ý: Đoạn văn trên vận dụng thuyết Vô Vi của Lão giáo cách nay 25 thế kỷ, không hẳn là "bảo giám " làm "minh tâm" con người ngày nay).
3A1. Nguyên văn:       
B. Dịch nghĩa:     Sách Tố thư nói: Suy xưa nghiệm nay là để khỏi lầm.
Muốn biết vị lai, trước phải xét dĩ vãng.
c. Diễn ca:     Muốn cho xét việc khỏi nhầm.
Thì phải sưu tầm kinh nghiệm người xưa.
Chẳng nên nghĩ cạn, làm bừa.
Con người phải chừa dấu vết bản năng
3A2. Nguyên văn:
 
 
B. Dịch nghĩa:    Kẻ khéo chán nhiều nhọc, kẻ vụng chán nhàn rỗi.
-                    Người thiện bị ghét là nhu nhược, kẻ ác bị ghét là ương ngạnh.
-                    Kẻ giàu bị ghen ghét, kẻ nghèo bị khinh bỉ.
-                    Kẻ siêng bị cho là tham lam. kẻ kiệm bị cho là bủn xỉn.
Thấy tận mắt mà không nhận ra mọi người đều cho là ngu ngốc.
Nhìn ra vận hội mà làm lại có kẻ nói là gian hùng. Nghĩ kỹ những chuyện ấy nên phải làm.
Làm người khó, làm chuyện làm người khó.
Làm người khó thay! Làm người khó thay.'
Viết cho hết giấy, bút khô mực.
Lại vẫn phải viết mấy câu: Làm người khó thay!
 
DIỄN CA:
Khéo thì quá nhọc, vụng chê nhàn.
Thiện, cười nhu nhược. Ác, làm càn.
Giàu, người căm ghét. Nghèo, khinh rẻ,
Siêng, chuốc tiếng tham. Kiệm, rán sành. (*)
Nhận định mù mờ, chê: kẻ ngốc,
Ra tay nhanh nhạy, mỉa: quân gian!
Nghĩ sao cho đúng? Làm sao đúng?
Thật khó làm người! Khó tính toan!
Mực cạn. bút cùn ngồi chép mãi:
 
 
Làm người là việc khó muôn vàn!
 
 
 
 
D. Chú thích: 
Rán sành: Tức "rán sành ra mỡ" thành ngữ cay độc mắng kẻ quá keo kiệt lại ngu xuẩn, thấy mảnh sành bóng láng, tưởng có lớp mỡ bám ngoài (!)
 
 
 
 
 
 
4a nguyên văn:
 
 
B. Dịch nghĩa:
 
 
Sách Cảnh Hạnh chép: Cây có cách nuôi thì gốc rễ bền mà cành lá tốt, đồ làm rường cột mới thành. Nước có cách nuôi thì suối nguồn khỏedòng chảy dài, cái lợi tưới tiêu được rải khắp. Người có cách nuôi thì chí khí lớn mà kiến thức sáng suốt, kẻ sĩ trung nghĩa mới xuất hiện.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca:
 
 
Cây kia chăm sóc khéo tay
Mới bền gốc rễ,  mới đầy lá xanh.
Gỗ làm kèo, cột mới thành
Nhà cao cửa rộng phải đành nhờ cây.
Nước kia chăm sóc khéo tay,
Suối nguồn mới khỏe, mới dài kênh, sông.
Tưới, tiêu mới khắp ruộng đồng.
Mới giúp con cháu nhà nông no đầy.
Người mà chăm sóc ngày ngày.
Chí khí phát triển, trí tài mới tinh.
Trung nghĩa từ đấy mới sinh,
Đất nước nhờ đấy quang vinh thêm nhiều.
 
 
 
 
 
 
Nguyên văn:
 
 
DỊCH NGHĨA:
Sách Tả truyện nói: Ý hợp thì Ngô Việt (*) thân nhau, Ý không hợp thì tình ruột thịt cũng làm cừu địch. Nghi người thì đừng dùng. Dùng người thì đừng nghi.
 
 
 
Vật phát triển đến tột cùng thì phải quay ngược lại: vui tột cùng thì đau buồn, hợp tới tột cùng thì chia lìa, thế lực thịnh tất sẽ suy, suy tột cùng thì thịnh lại.
 
 
 
 
c. Diễn Ca:   Hợp ý, thù cũng yên,
Thù nhau, nếu trái ý
Dùng người, đừng  nghi kỵ
Nghi kỵ thì đừng dùng,
Vật phát triển đến cùng
Quay trăm tám mươi độ. (1800)
Vì thế, vui.. hết số
Tất phải chuyển ra buồn
Liên kết phình đến cùng,
Mầm ly khai nhen nhóm.
Thế lực tột cùng lớn
Tất sắp sửa suy vong
Chịu hết hồi long đong.
Tất hưởng mùi sung sứơng..
 
 
 
D Chú thích: Ngô Việt tên hai nước chư hầu đánh nhau quyết liệt
vì thù hận truyền kiếp. Cuối cùng Việt tiêu diệt Ngô.
6A .Nguyên văn:  
3. Dịch nghĩa:    Cá đáy nước, nhạn bên trời, cao có thể bắn. Thấp có thể câu. Chỉ có lòng người trong khoảng gang tấc (*) nhưng gang tấc ấy không thể đo. Đất có thể lường chỉ có lòng người không thể ngừa. Vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương. Biết người biết mặt không biết lòng. Đối diện chuyện trò lòng cách nghìn non.
 
 
 
c. Diễn ca:   Cá đáy nước, nhạn bên trời
Dễ câu, dễ bắn, lòng người mới gay.
Thà đo trời thẳm  đất dày.
Lòng người nham hiểm dễ ai biết ngừa?
Xương hùm ai dám vẽ chưa?
Vẽ da, ai cũng biết  vừa sức hơn!
(Vẽ da, vẽ hổ khó mà vẽ xương)
Chuyện trò tay bắt mặt mừng.
 
 
Lòng đây, lòng đấy, nghìn trùng cách xa.
 
 
 
 
D. Chú thích:      Gang tấc: nguyên văn "chỉ xíchmô tả khoảng cách
 
 
không đáng kể (chỉ: 0,256m. xích: 0.32m).
 
 
 
 
B. Dịch nghĩa:    Thái Công nói: Người ta không nên đoán trước qua bề ngoàiNước biển không thể  đong bằng chén uống rượu. Khuyên người chớ kết oan, oan sâu khó cởi ra. Một ngày kết thành oan. nghìn ngày cởi chẳng sạch. Nếu đem ơn đáp oan. như đem nước sôi dội tuyết. Nếu đem oan đáp oan, như chó sói gặp bọ cạp. Ta thấy những người kết oan đều bị oan làm cho sứt mẻ cả.
 
 
 
 
c. Diễn ca:      
Đừng xét người đời kiểu đoán trước,
Nước biển đem cốc lường sao được?
Khuyên ai chớ có kết oan gia.
Oan gia đã buộc khó gỡ ra.
Oan gia   dù chỉ một ngày kết
Cởi suốt nghìn ngày cũng không hết.
Nếu đem  ơn nghĩa đáp oan gia,
Như dội nước sôi, tuyết chảy ra.
Nếu cứ đem oan báo oan riết,
Sói gặp bọ cạp chịu hết xiết
 Ta từng thấy bao kẻ gây oan.
Hết thảy đều  chuốc bao nguy nan...
 
 
 
 
 
 
8A. Nguyên văn:
B. Dịch nghĩa:    Sach cảnh Hạnh Chép: Kết oan với người gọi là trồng họa, bỏ việc thiện không làm gọi là tự hại mình. Chớ tin cái gọi là thẳng của kẻ thẳng, phải đề phòng cái bất nhân của người nhân. Lễ nghĩa nảy sinh nơi giàu đủ, trộm cướp nổi lên nơi đói rét. Nghèo nàn không đi cùng hạ tiện mà hạ tiện tự sinh. Giàu sang không đi cùng kiêu xa nhưng kiêu xa tự đến.
 
 
 
No ấm nghĩ đến dâm dục, đói rét nổi lên lòng trộm cướp. Nghĩ mãi đến nghèo khổ, tai nạn nguy khốn, tự nhiên Không kiêu.  Nhớ mãi đến bệnh tật thuốc  thang sẽ không sầu muộn.
 
 
 
 
c. Diễn  ca:
 
 
Kết oan trồng họa chờ ngày
Vứt bỏ việc thiện, gây tai ương mình. Thẳng thắn chưa hẳn đủ tin,
Trong nhân, nhận rõ tình hình bất nhân.
Khi giàu, lễ nghĩa đến gần,
Khi nghèo, thói trộm dần dần nảy sinh.
Đã nghèo tự khắc hóa hèn,
Đã gìau, xa xỉ, kiêu căng nẩy liền.
 No đầy, tơ tưởng... "chơi tiên”,
Đói rét nghĩ cách kiếm tiền thật nhanh
Thấp thỏm sợ chuyện chẳng lành.
Tự chữa cho mình khỏi thói kiêu căng.
Nhớ hoài bệnh tật thuốc men,
Tự nhiên xóa sạch buồn phiền quấy ta.
 
 
 
 
 
 
Nguyên văn:
 
 
3. Dịch nghĩa: Sớ Quảng nói: Người giỏi có nhiều của thì hao tổn chí hướng của họ. Người ngu có nhiều của thì càng có thêm cái lỗi của họ. 
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca:
 
 
Người giỏi có lắm của,
Của làm nhụt chí đi
 Kẻ ngu có lắm của.
Của xui tội thêm ghi
 
 
 
 
 
 
Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Lão Tử nói: Của nhiều làm mất đi cái chân lý mình bám giữ Học nhiều làm nghi hoặc vốn kiến thức đã thu thập.
 
 
 
 
 
 
Của nhiều, lý tưởng hao đi
Học nhiều, nghi hoặc những gì tưởng hay.
 
 
 
 
 
 
3. Dịch nghĩa: Người ta không phải là vua Nghiêu vua Thuấn (*} làm sao mọi việc đều tốt hết mực được? Người nghèo thì lập chí kém, phước đến thì lòng tinh tế ra. Không từng trải một việc thì không khôn ra một chút, việc thành thì cho là tuyệt vời, việc bại thì cho là không có khả năng. Phải trái cả ngày phải có. Cứ không nghe là tự nhiên thành không có. Kẻ đến nói chuyện phải trái  tức là con người lắm chuyện. Nếu nghe hai kẻ lắm chuyện như thế nói, sẽ thấy cả hai cách biệt hẳn nhau.
 
 
 
 
 
 
Diễn ca:
 
 
Nghiêu Thuấn là mẫu người xưa,
Ngày nay ai dám so bừa thánh quân?
 Nhà nghèo lập chí khó khăn.
May ra phước đến, khôn lanh ít nhiều.
Việc đời chưa trải bao nhiêu,
Dễ chi tài trí cao siêu hơn đời?
Việc thành, ca ngợi vẽ vời
Việc hỏng chuốc lấy bao lời chê bai.
Phải quấy ai chẳng một vài
Nghe đâu bỏ đấy chẳng ai phiền lòng.
Kẻ đem phải quấy phao đồn.
(Là trò khó phỉnh  người khôn mắc lừa!)
Nếu nghe hai phía phân bua.
Thấy ngay là chả ai vừa với ai!
 
 
 
 
 
 
D. Chú thích: Nghiêu Thuấn: vua Đường Nghiêu (2352 - 2256 trước Công Nguyên) và Ngu Thuấn ‘12255 - 2206 trước Công Nguyên). Tương truyền là hai vị Vua đạo đức nhất.
 
 
 
 
 
 
3. Dịch nghĩa: Thơ Kích Nhưỡng (*) nói: Trong đời không làm việc nhíu màythiên hạ sẽ không có người nghiến răng.
 
 
Mầy hại người khác thì mày cho là được, người khác hại mầy thì mới sao? Cỏ non sợ sương, sương sợ mặt trời. Kẻ ác tự nhiên có kẻ  ác giũa mài nó. Có danh há ở chỗ khắc vào đá cứng? Những người đi trên đường có miệng hơn bia đá. Có xạ tự nhiên thơm, cần gì phải đứng đầu gió.
 
 
 
 
c. Diễn ca: 
 
 
Đừng làm thiên hạ chau mày,
Thì thiên hạ chẳng có ai căm hờn.
Mầy hại người tưởng mầy hơn.
Người ta hại lại, mày còn nói chi?
Cỏ non sương muối teo đi,
Mặt trời rọt xuống, sương kia tan tành.
Kẻ ác cứ tưởng lừng danh.
Phải tôn kẻ khác đàn anh mấy hồi?
 Danh đâu khắc đá đỉnh đồi?
 Nó nằm ở miệng  người đời đấy thôi,
 Xạ thơm thì đã thơm rồi.
Cần chi phải đặt ở nơi gió nhiều?
 
 
 
 
 
 
Nguyên văn
 
 
Dịch nghĩa: Trương Vô Tận nói: Việc không nên làm đến hết, thế không nên ỷ hết,  nói không nên nói hết, phước không  nên hưởng hết. Có phước không hưởng hết,  phước hết mình nghèo túng. Có thế không dùng hết,  thế hết gặp oan trái. Phước phải thường tiếc, thế phải thường cung kính. Người kiêu căng với xa xỉ chỉ có được lúc đầuphần nhiều không có lúc cuối.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca: 
 
 
Việc đời giữ mực vừa vừa
Cần phải biết  chừa khoảng cách an ninh.
Chớ nên dốc hết bình sinh
Có quyền thế phải giữ mình khiêm cung.
Nói năng cũng phải dè chừng,
Có phước chớ hưởng đến cùng cho xong.
Hết phước sẽ gặp long đong
Hết quyền thế, chuốc mối oan là thường. Hưởng phước phải biết dè chừng.
Hưởng quyền thế phải nhún nhường giữ thân. Những người xa xỉ kiêu căng,
Chỉ được vênh váo, hung hăng lúc đầu.
Rồi ra lép vế về sau.
Ai ơi! Hãy liệu khuyên nhau vừa vừa.
 
 
 
 
 
 
3. Dịch nghĩa: Thái Công nói: Nghèo không thể khinh, giàu không thể cậy,  âm dương đắp đổi nhau, giáp vòng là quay lại lúc đầu.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca: 
 
 
Thấy nghèo thì chớ có khinh.
Thấy giàu chớ tưởng là mình dễ vay.
Âm đương đắp đổi vẫn  xoay,
Hôm qua nghèo đấy, hôm nay giàu rồi!
Ngày  mai nghèo lại ngay thôi
Thế là Vận số đã trôi giáp vòng.
 
 
 
 
3. Dịch nghĩa: Bài minh "Để lại bốn cái " của Vương Tham Chính viết:
 
 
-                    Để lại phần còn thừa của công lao chưa hưởng hết trả lại Tạo Hóa.
-                    Để lại phần còn thừa của bổng lộc chưa hưởng hết trả lại triều đình.
-                    Để lại phần còn thừa của tiền tài chưa hưởng hết trả lại trăm họ.
Để lại phần còn thừa của phước đức chưa hưởng hết trả lại con cháu.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca: 
 
 
Công lao xin hưởng vừa vừa.
Để lại phần thừa trả Tạo Hóa thôi
Bổng lộc cũng đã hưởng rồi
Để phần thừa lại trả nơi triều đình.
Tiền tài hưởng đủ phần mình.
Phần thừa để lại chúng sinh làm qùa.
Phận may hưởng được phước nhà
Dành cho con cháu, bớt ra một phần.
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa: Sách Hán thư nói: Kẻ giao du bằng quyền thế thì rất thân cận, nhưng quyền thế hết là mất. kẻ giao du bằng tiền tài thì rất thân mật nhưng tiền tài hết thì rời nhau. Kẻ giao du bằng nhan sắc thì rất thân nhau nhưng sắc suy la cắt đứt.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca: 
 
 
Thân nhau cùng chức vị cao,
Một bên mất chức, là xao lãng tình  
Thân nhau giữa kẻ lắm tiền.
Một bên phá sản là quên tức thì!
 Thân nhau nhan sắc mê si
Một bên bệnh hoạn nan y là rời!
 Ai ơi xin nhắn một lời :
'Tĩnh tâm” cho kỹ mới thôi “thân”  nhầm!
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa:
Vàng ròng nghìn lạng chưa phải là qúy, Được của người một lời nói tốt quý hơn nghìn vàng. Nghìn vàng dễ có được,  lời nói tốt khó tìm được. Đòi hỏi người  không bằng đòi hỏi mình. Cai quản giỏi không bằng triển khai giỏi .  Nặng lòng cai quản sẽ gặp nhiều rắc rối.  Kẻ có khả năng là đầy tớ kẻ vụng dại. Lúc biết ít  việc thì ít phiền não, biết người nhiều quá thì chịu nhiều thị phi. Thuyền bé không chịu nổi chở nặng, lối đi rậm khuất không nên đi một mình. Giẫm lên chỗ đất chắc thì không gặp chuyện phiền não. Vàng ròng chưa phải là qúỵ, yên Vui có giá trị hơn tiền nhiều.
 
 
Của phi nghĩa làm hại mình, lời dữ làm tổn thương người.  Người chết vì của, chim chết vì mê ăn.
 
 
 
 
c. Diễn ca.:      Nghìn vàng chưa hẳn quý đâu.
Lời hay lắm lúc  in sâu nhiều đời
 Nghìn vàng kiếm cũng ra thôi
Dễ gì kiếm được một lời hay ho?
Đòi hỏi mình, mới đáng lo,
Đòi hỏi người, chỉ tính cho nhất thời
Giữ  cái có  đã khó rồi,
Mở mang cái có, muôn đời ngợi khen,
Ở đời, những kẻ tài năng,
Chỉ làm đầy tớ mấy anh vụng về,
Biết ít, chuyện đỡ  nhiêu khê,
Biết nhiều người, chốn lắm bề thị phi
Thuyền con chở nặng khó đi,
Nẻo đường rậm khuất, ngại khi một mình.
Vì mồi chim dễ hy sinh,
 
 
Vì của thiên hạ bỏ mình như chơi!
 
 
 
 
18 A. Nguyên văn:  
 
 
 
B Dịch nghĩa:     Sách cảnh Hạnh chép: Lợi có thể chung mà không thể một mình. Mưu có thể một mình mà không thể đông người. Lợi một mình thì hư, mưu đông người thì rò rỉ. Mưu cơ không kín đáo thì họa xảy ra trước. Đứa bất hiếu oán cha mẹ, kẻ mắc nợ oán chủ nợ. Tham nhiều nhai chẳng nát nhà nghèo mong láng giềng có của. Ở nhà không biết đón khách, đi ra mới biết ít chủ nhân. Chỉ mong có tiền giữ khách ở lại nhậu  còn hơn cưỡi ngựa tựa cổng người khác. Kẻ nghèo ở nơi chợ đông không có người hỏi, kẻ giàu ở non sâu cũng có bà con xa. Tình đời chỉ xem lạnh ấm, mặt người chỉ nhìn theo cao thấp. Nhân nghĩa mất theo cảnh nghèo, tình đời chỉ lệch về phía có tiền. Ăn cả nghìn món không ai biết, áo xổng lam lũ bị người ta khinh ngay, thà lấp hang không đáy. không lấp nổi vạch ngang dưới mũi. Ngựa bước chậm chạp chỉ vì gầy, người không phong lưu chỉ vì nghèo.
 
 
 
 
  c. Diễn ca:     
Lợi thì chung hưởng mới là,
Chớ nên hưởng một mình ta sinh rầy.
Mưu thì chỉ một mới hay.
Nhiều người biết đến, lộ ngay ấy mà!
Con bất hiếu oán mẹ cha,
Kẻ vay nợ, lại oán nhà cho vay.
Tham đầy mồm, tất khó nhai,
Nghèo mong lối xóm, ai ai cũng giàu.
(Phòng khi vay mượn cũng mau,
trả nợ cũng đỡ đi lâu nhọc người!)
Nhà thưa tiếng khách nói cười
 Đi ra cũng ít được người đón đưa
Có tiền mời khách say sưa
Còn hơn ghé ngựa đứng chờ cổng ai.
Nghèo ở chợ chẳng ai hay,
Giàu ở núi, tiếp suốt ngày bà con.
Tình đời ấm lạnh tùy cơn,
Mặt người ngước chốn cao hơn ấy mà,
Khi nghèo, nhân nghĩa phôi pha
Nhiều tiền mới hút người ta kéo về
Khi ta đánh chén no nê,,
Chẳng ai hỏi lối đi về của ta
 Nhưng khi ta xác xơ ra
Họ kéo cả nhà xúm lại khinh khi
Lấp hang không đáy khó chi
Nhưng chẳng dễ gì lấp miệng xôn xao.
Ngựa gầy bước thấp bước cao,
Người nghèo chẳng biết làm sao đỡ  hèn!
 
 
 
19A. Nguyên văn:
3. Dịch nghĩa: Hòa Thượng Tế Điên răn đời rằng: Xem hết kinh Di Đà, niệm sạch bàichú Đại Bi thì trồng dưa vẫn được  dưa, trồng đậu vẫn được đậu. Kinh chú vốn từ bi,  kết oan cứu sao được? Soi thấy cái Tâm vốn có, kẻ nào làm thì nấy chịu, mình tự làm thì tự chịu.
 
 
 
 
c. Diễn ca:
 
 
Kinh Di Đà, chú Đại Bi
Thấm nhuần, thấu triệt, ích gì mấy đâu?
Một khi kết oán đã sâu.
Dẫu kinh cùng chú nhiệm mầu cũng thua. Cha ông suy  gẫm từ xưa.
Trồng đậu chẳng hái được dưa đâu mà!
 Lẽ nhân qủa chẳng buông tha.
Mình làm mình chịu, ai mà cứu ai?
 
 
 
 
 
 
3. Dịch nghĩa: 
Tuân Tử nói: Công tâm sinh ra sáng suốt, thiên vị sinh ra tối tăm. làm theo đức thì trôi chảy, làm theo bịp bợm thì bế tắc. Thật thà tin cậy Sinh ra thần tình, dối trá khoác lác sinh ra ngờ vực.
 
 
 
 
 
 
c. Diễn ca:
 
 
Kẻ công tâm nói gì cũng đúng,
Thiên vị thường lúng túng vụng về.
Làm điều đức độ xuôi ghê.
Làm điều dối gạt như đê chận dòng.
Thần tình là kẻ thật lòng.
Lừa người thì mới thổi phồng, tán dương
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa: 
Sách Hán Thư nói:  Kẻ uốn cong ống khói dời củi đi thì không được coi là có ơn, kẻ cháy tóc bỏng trán lại làm thượng khách.
 
 
Diễn ca: (chuyển thể thơ ngụ ngôn)
Hỏa hoạn ai cũng ngán,
Có kẻ khuyên đề phòng.
Củi nên dời chỗ thoáng
  Ống khói nên uốn cong.
Lời khuyên, gác ngoài tai
“Kẻ khuyên " đều tiu nghỉu,
Cả xóm hùa chê bai.
“Kẻ khuyên" bấm bụng chịu.
Qủa nhiên xảy cháy nhà.
Tài sản hao hơn nửa
“Kẻ khuyên" bận đi xa.
Lối xóm xúm dập lửa
“Kẻ khuyên” đi xa về.
Tìm lời sang an ủi
 Thấy tiệc bầy ê hề.
Chủ nhân như muốn đuổi
  Quả là đồ xấu xa
Chi rứa nhà ta cháy
Giờ thì cháy thật rồi!
Chắc có kẻ vui đấy
Lại  quay sang khách mời
  Phước may nhờ các vị
Cụng ly một cái chơi!
Hoan hô người tận tụy.
“Kẻ khuyênchua chát cười
Như  học trò thi hỏng
“Mình tử tế mười mươi
 Nhưng nói ra lại  ngọng”.
 
22A Nguyên văn:  
B Dịch nghĩa:
Ba tấc hơi còn dùng cả nghìn việc, một sớm gặp chuyện vô thường (tức chết đi) thì muôn việc đều thôi. Muôn vật chẳng trốn nổi số, muôn thứ điềm lành chẳng bằng không. Trời chẳng sinh người không lộc, đất chẳng sinh cỏ không rễ. Giàu  to d0 trời, giàu nhỏ nhờ siêng năng. Giàu lớn thì kiêu, nghèo lớn thì lo.
Lo thì làm trộm, kiêu thì tàn bạo. Chớ nói nhà chưa nên, con làm nhà nên còn chưa sinh. Chớ nói nhà chưa tan, con làm nhà tan con chưa lớn. Con làm nên nhà thì tiếc phân như vàng, con làm tan nhà xài vàng như phân.
 
 
c. Diễn ca:  
Còn hơi thở, còn xoay nghìn việc,
Tắt hơi rồi, ai thiết chi chi.
Số trời khi đã dứt đi
Muôn điều lành tốt đều  thì bằng không.
Trời sinh người cũng đồng hưởng lộc,
Đất sinh cỏ đủ gốc rễ  thôi
Giàu  to nhờ bởi số trời
Giàu nhỏ là bởi cả đời siêng năng.
Kẻ giàu to kiêu căng, khinh bạc.
Kẻ nghèo to, phờ phạc lo âu.
Lo âu toan trộm nhà giàu.
Kiêu nhà giàu bạo chẳng bao giờ vừa
Chớ nghĩ rằng nhà chưa phát đạt
Chẳng qua con kích phát chưa sinh.
Đừng  cho nhà nọ vẫn yên.
Chẳng qua đứa phá chờ phiên trưởng thành.
Con nhà nên, qúy phân như ngọc.
Con nhà hư, coi ngọc như phân.
Cơ trời biến chuyển xoay vần.
Nên, hư, tốt, xấu  dần dần lộ ra...
 
 
23 A. Nguyên văn:   
B. Dịch nghĩa:        
 
Ông Hồ Văn Định nói: Tất cả mọi người phải thường giữ cho có sự chưa đủ, nếu mười phần   thỏa ý phải đề phòng xuất hiện cái không ăn khớp với việc tốt.
 
 
c. Diễn ca:
'Cái chưa đủ" buộc người đối phó,
Giải quyết nhanh khi có lôi thôi.
Cái Tâm đã định thế rồi,
Lôi thôi xảy đến vẫn coi chuyện thường.  
“Cái khoái ý" mọi đường thỏa mãn,
Xem cuộc đời chẳng đáng bận tâm.
Chủ quan nên dễ sinh nhầm,
Tai ương xảy đến, thâm tâm rối bời..
 
 
4A. Nguyên văn: 
 
B. Dịch nghĩa:    Thiệu Khang Tiết  nói: Lúc rảnh rang chớ nói là không hại gì. Vừa nói không hại liền có hại. Sướng miệng ăn nhiều rốt cuộc bị bệnh. Gặp việc khoái ý tất có Tai ương. Tránh đi trước đường nhỏ gặp nạn bất ngờ.
Qua rồi lời lẽ nghiệm ra mùi vị thấm thía lâu. Để lâm bệnh rồi mới tìm thuốc, không bằng biết tự phòng ngừa trước. Tha người không phải là dại, vì sau đấy sẽ gặp sự thuận lợi  . Đuổi người chẳng nên đuổi chận đầu. Bắt giặc chẳng bằng đuổi giặc.
 
c. Diễn ca.:   Chớ nên bảo 'Chẳng hề gì ! "
Dứt lời có chuyện “hề gì" tới ngay,
Món ngon đánh chén no say.
Dễ sinh nên bệnh l0 ngày lo đêm.
Thấy việc thú vị lại thèm
Biết đâu chuốc họa nhiều thêm ích gì?
Lối hẹp, đi trước dễ nguy,
Nói sau mới đủ những gì hay ho.
Lâm bệnh. xuôi ngược chăm lo,
Chi bằng trước đấy,  phòng cho kỹ càng.
Tha người, há kém khôn ngoan ?
Mai sau hẳn gặp dễ dàng cho ta.
Rượt người , hãy chớ rượt nà
Bắt sống quân địch kém xa xua về.
 
25A Nguyên văn:
 
B. Dựh nghĩa:     Tử Đồng Đế Quân (*) buông lời dạy: Thuốc Hay không chữa được bệnh oan trái. Của  hoạnh tài  không làm giàu được người mệnh cùng. Lòng phụ bạc rút cạn hết phước bình sinh. Nếu cư xử kém trời bắt nghèo cả đời. Sinh sự tất sự sinh ngươi chớ oán. Hại người tất người hại lại, mầy đừng cự nự  . Trời đất tự nhiên đều có báo đáp. Xa thì đời con đời cháu, gần thì ở ngay đời mình. Thuốc chữa thứ bệnh không chết. Phật hóa độ cho người có dịp may.
 
c. Diễn ca:    Bệnh oan trái thuốc nào chữa nổi?
Của hoạnh tài chẳng đổi mạng nghèo.
Cả đời làm phước dẫu nhiều.
Trái lòng một việc, phước theo sạch liền!
Tính nết kém, liên miên nghèo túng.
Cán cân trời, cân đúng lòng trời.
Gieo gì gặt nấy mà thôi,
Khuyên ai chớ oán, buông lời sân si.
Trời lẳng lặng duy trì báo ứng
Hoặc bản thân, hoặc hướng cháu con.
Thuốc hay chỉ chữa người còn.
Phật chỉ hóa độ tâm hồn gặp may.
 
D Chủ thích:      
Tử Đồng Đế Ouân: Nhân vật vô cùng kỳ lạ trong đức Tin người Trung Ouốc (có lẽ khó được giới nghiên cứu tiếp thu).
 
Lúc đầu Ông là người thường, có tên là Trương Á tức Trương Dục người núi Thất Khúc, làm quan đời Tấn. (thế kỷ IV)-. Năm Ninh Khang 2 (394) đời Hiếu Vũ Đế nhà Đông Tấn. Ông tự xưng Thục vương khởi nghĩa chống nhà Tiên Tần, tử trận chôn ở núi Thất Khúc, thuộc quận Tử Đồng. Các đời Đường, Tống về sau đều phong tặng ông tước Vương. Đến đời Nguyên Nhân Tông, năm 1316 ông được phong là Văn Xương Đế Quân (!) cai quản. .. chùm sao Văn Xương (gồm sáu ngôi, phía tả chùm sao Bắc Đẩu).
Truyền thuyết kể rằng: Văn Xương Đế Ouân hóa thân xuống trần gian làm quan 73 lần đều thanh liêm nên được Thiên Đế giao quản Ouế Tịch (hồ sơ công danh) điều hành việc đỗ đạt, thăng  thưởng.
 
Các đời Nguyên Minh đều có lập Văn Xương Cung. Văn Xương Các, Văn Xương Từ. Tế lễ trong hậu cấp nhà nước. Quy mô hoành tráng nhất là ở quận Tử Đồng (nơi có lăng mộ Trương Á Tử). ở đấy còn xây dựng hàng loạt công trình phụ sử dụng như một trường đại học ngày nay. Thánh đản được tổ chức thành lễ hội vào ngày 3 tháng 2 hàng năm.
(.Tóm tắt tư liệu của Châu Quân Vũ)
 
 
3. Dịch nghĩa: Hoa rụng, hoa nở, nở xong lại rụng. Áo gấm áo vải thay đổi nhau mặc. Nhà hào phú  chưa chắc cứ giàu mãi, nhà nghèo hèn chưa chắc lặng lẽ hoài.  Nâng người chưa chắc nâng tới trời xanh, đẩy người chưa chắc rơi đến khe mương. Khuyên người mọi việc không nên oán trời. Ý trời không hậu với    ai, không bạc với ai.
 
 
c. Diễn ca.:
Hôm nay hoa rụng khắp trời
 Ngày mai hoa nở nơi nơi tía hồng.
Rồi ra rụng khắp tây đông
Đời người gẫm lại cũng không khác nào.
Hôm nay chức trọng quyền cao.
Ngày mai áo vải rơi vào dân đen.
Giàu nghèo đắp đổi luân phiên.
Chẳng ai bền bỉ liên miên một bề.
Xô người xuống tận đáy khe.
Mai kia người cũng lăm le lên bờ.
Nâng người lên tận mây trời,
Mai kia người cũng sẽ rơi xuống trần.
Ai ơi!  Xin chớ oán ngầm.
Trời kia phân phát mọi phần công minh.
 
 
3. Dịch nghĩa:  Đừng đến châu nha với huyện nha. Khuyên ngươi cần kiệm để sinh nhai. Ao vũng chứa nước phải phòng hạn. Ruộng đất siêng cày đủ nuôi nhà. Dạy con dạy cháu đều nên dạy nghề. Trồng dâu trồng đố (*) ít trồng hoa Chuyện phải quấy vặt vãnh đừng bận tâm. Khát uống suối trong, buồn uống trà.
 
 
c.Diễn ca: 
Chớ nên bén mảng chốn quan nha
Cần kiệm làm ăn thế mới là!
Ao vũng nước nhiều phòng hạn hán
Ruộng vườn cày cấy đủ nuôi nhà.
Dạy nghề này nọ cho con cháu,
Trồng đó, trồng dâu, bớt thích hoa
Mọi chuyện thị phi đừng  vướng bận.
Khát dùng nước suối, chán dùng trà.
 
 
D. Chú thich: Đố;  loài cây cho lá nuôi tằm, vỏ làm thuốc nhuộm, làm dây cung .
 
 
3. Dịch nghĩa: Tính nhẹ nhõm lòng nhẹ nhõm được mấy năm rồi. Người chết người sống ở trước mắt. Gặp cao theo cao, Gặp thấp theo thấp tùy từng lúc. Có khi khá Có khi kém không oán ngầm. Có thì có, không thì không, chả than van.  Nhà nghèo hay giàu mặc lòng trời, cả đời hưởng lộc, cho phép mặc sao hay vậy.  Một ngày an nhàn là làm tiên một ngày.
 
 
c. Diễn ca:   
Tâm hồn thanh thản mấy năm rồi
Chết sống chuyện thường trước mắt thôi Cao thấp công danh không đếm xỉa.
Dở hay tài trí chẳng thừa hơi.
Dù không dù có thôi than thở,
Nghèo túng giàu sang phó mặc trời
Cái mặc cái ăn sao cũng được,
An nhàn mới sướng nhất trên đời
 
 
3. Dich nghĩa: Sách Gia ngữ nói người quân tử có ba điều lo không thể không xét vậy: Nhỏ mà không học, lớn không có khả năng, già mà không dạy. Chết đi không ai nghĩ đến, có mà không bố thí lúc cùng khốn chẳng ai cho. Thế cho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến khi lớn thì lo học, lúc già nghĩ đến cái chết nên lo dạy. Khi có nghĩ đến khi cùng khổ nên lo bố thí.
 
 
c. Diễn ca:
Ba cái lo lớn trên đời
Nhỏ không học hỏi, lớn thời vô năng.
Già không truyền dạy tận tâm,
Chết không ai nhớ, ai khâm phục mình.
Khi giàu chẳng dốc nghĩa tình,
Sa cơ thất thế kẻ khinh người cười
Lo xa,  lúc trẻ không lười
Lúc già chăm dạy cho người gắng công.
Lúc giàu bứơt tiếc tiền nong,
Đem ra giúp đỡ kẻ  không có tiền.
 
 
30A. Nguyên văn:   
5.Dịch nghĩa; Sách cảnh Hạnh chép: Kẻ giỏi thương mình chưa chắc giỏi làm cho người ta nên. Kẻ tự dối mình tất dối người. Kẻ tiết kiệm cho mình chưa chắc chu cấp cho người. Kẻ nhẫn tâm với mình tất hại người. Như thế không có gì khác là làm điều thiện khó, mà làm điều ác dễ, giàu sang dễ làm điều thiện, mà làm điều ác cũng không khó. 
 
 
c. Diễn ca: 
Thương mình chưa chắc thương người
Dối mình, cầm chắc mười mươi dối người
Kẻ tiết kiệm của thường dư,
Cũng dễ khước từ khi có người vay.
Mạng mình coi tựa cỏ cây.
Mạng người chắc cũng thẳng tay dễ dàng, chẳng qua điều thiện khó làm,
Điều ác thì dễ, chẳng ham vẫn rành.
Giàu  sang làm thiện cũng nhanh,
Làm ác cũng chóng, tiến hành dễ hơn!
 
 
Dịch nghĩa: Khổng Tử nói: Giàu mà có thể làm được, tuy làm tên lính cầm roi (đánh xe ngựa) ta cũng làm. Nếu không thể tìm thì ta làm theo cái ta muốn.
 
 
c. Diễn ca: Cái giàu nếu dễ kiếm ra.
Dù đánh  xe ngựa thì ta cũng làm.
Còn như chẳng dễ gì ham.
Thì ta đeo đuổi cách  làm ta ưa.
 
 
3. Dịch nghĩa: Nghìn cuốn thi thư khó mà dễ. Một món áo cơm dễ mà khó. Trời không cắt đứt đường của người nhưng mỗi người còn có mỗi nỗi sầu. Người không nghĩ xa tất  có l0 gần. Kẻ 'ừ' dễ dàng qúa tất ít đáng tin cậy. Kẻ khen trước mặt sẽ chê sau lưng.
 
 
c. Diễn Ca: 
Sử sách khó mà dễ,
Áo cơm dễ mà khó.
Trời nào đóng cửa ai?
 Thế nhưng rầu vẫn có.
Kẻ chẳng biết lo xa,
Thì lo gần tất rõ.
Kẻ vâng lời nhẹ tênh,
Sẽ dễ dàng phủi bỏ.
Kẻ khen ào trước măt,
 Sau lưng sẽ chê đó!
 
 
3. Dich nghĩa: Sách Cảnh Hạnh chép: Bậc đại trượng phu thấy điều thiện sáng tỏ cho nên coi danh tiết nặng hơn thái Sơn, dụng tâm cứng cỏi cho nên coi sống chết nhẹ hơn lông hồng. Việc bên ngoài không kể là lớn hay nhỏ, dục vọng trong lòng không kể là cạn hay sâu, có quyết  đoán thì sống, không quyết đoán thì chết. Đại trượng phu lấy quyết đoán làm đầu.
 
 
c. Diễn ca: 
 
Phàm là bản lĩnh đàn ông,
 
Coi trọng danh dự hơn hòn Thái Sơn.
 
Cái tâm cứng cỏi chẳng sờn.
 
Nên coi cái chết nhẹ hơn lông hồng.
 
Việc dù lớn nhỏ mặc lòng.
 
Dục vọng sâu cạn không vui chẳng buồn
 
Việc đến tay, quyết đoán luôn
Rụt rè. dè dặt, nói suông, chẳng hề!

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: MINH TÂM BẢO GIÁM   

Về Đầu Trang Go down
 
MINH TÂM BẢO GIÁM
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán - Lục Ngạn - Bắc Giang :: Các Đạo Khác-
Chuyển đến