Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang
Chào bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang!
Diễn Đàn là nơi giao lưu kết bạn, sưu tầm, lưu trữ, học hỏi và chia sẻ kiến thức.
Để cùng nhau tiến bộ trên con đường hướng thiện.
Chúc bạn sức khỏe và có nhiều thành công mới trong cuộc sống!

Om mani pad me hum
Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang

Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy.
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Chào mừng các bạn đã ghé thăm Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang! Chúc các bạn sức khỏe và thành đạt! Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang.

Share | 
 

 ***Trang Tử***

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: ***Trang Tử***   Tue Aug 06, 2013 4:17 pm

NAM HOA KINH
Dịch và bình chú : Thu Giang Nguyễn Duy Cần
NỘI THIÊN



Tiểu dẫn


I. LƯỢC SỬ TRANG TỬ:
Trang Châu, thường gọi là Trang tử (sống trong khoảng 369- 298 trước Tây lịch kỷ nguyên) , có lẽ là một nhà Lão học cao nhất trong các nhà Lão học cổ nhất ở Trung- Hoa. Tư- Mã- Thiên trong Sử- Ký, chương Trang tử liệt- truyện nói: "Trang tử, người xứ Mông, tên là Châu ; nhưng không thấy nói là người nước nào.
Phi Nhân trong Tập- giả dẫn Địa- lý- Chí ra mà nói: Huyện Mông, thuộc về nước Lương. Còn Tư- Mã- Trinh trong Sách- ấn dẫn lời của Lưu- Hướng trong Biệt- Lục lại nói: "người xứ Mông, nước Tống".
Như vậy, Trang tử là người nước nào? Lương hay Tống?
Mã- tự- Luân trong Trang tử Tổng nhơn khảo nghiên cứu hai thuyết trên đây rất kỹ, quả quyết rằng Trang tử là người nước Tống.


Theo họ Mã thì Trang tử sống vào khoảng Lương Huệ- Vương nguyên- niên và Triệu- Huệ- Văn nguyên- niên. Lương- Huệ- Văn nguyên- niên thì thuộc về khoảng năm thứ 6 đời Châu- Liệt- Vương, còn Triệu- Huệ- Văn nguyên- niên thì ném vào khoảng Châu- Văn- Vương năm thứ 17. Như vậy, chiếu theo tây lịch kỷ- nguyên, Trang tử sống vào khoảng 370 và 298 trước Tây- lịch kỷ- nguyên, nghĩa là đồng thời với Mạnh- tử, Huệ- tử bên Á, và Aristole, Zénon, Epicure bên Âu.
***
Sự tích truyền lại về đời sống Trang tử thật là mơ- hồ, không có chi có thể tin là đích xác được. Nhưng, căn cứ vào sách Trang tử, những câu chuyện thuật lại, có một giá- trị đặc biệt về phương- diện học- thuật, tưởng cũng không nên không lưu ý.


***
Đời ông rất nghèo, gần như cơ hàn.
" Trang tử nghèo túng… sang Giám- hà- Hầu vay lúa. Giám- hà- Hầu nói:" Tôi có cái ấp sắp nộp tiền lúa. Tôi sẽ giúp ông trăm lượng. Có được không?"
Trang tử giận:" Hôm qua, khi Châu đến đây, giữa đường nghe có tiếng kêu. Ngoảnh lại trông, thì thấy một con cá đang vùng vẫy trong cái vết bánh xe. Châu tôi hỏi:" Cá đến đây để làm gì?" Cá nói:" Tôi là Thủy- thần ở bể Đông, ông có thể giúp tôi một chén nước mà cứu tôi không?" Châu tôi nói:" Để tôi qua chơi bên phía Nam nước Ngô nước Việt, rồi khi về, tôi sẽ lấy nước Tây- giang về đón ngươi. Có được không?" Cá giận nói:" Tôi đang cần nước, ông chỉ cho tôi được một ít là đủ sống. Nay nói như ông, đợi đến lúc ông về thì đến hàng cá khô, sẽ thấy tôi nơi ấy!"


(Ngoại- Vật)
***
Ở thiên Sơn- Mộc cũng có nói:
" Trang tử bận áo vải mà vá, giày cột bằng dây gai…
Gặp Ngụy- vương. Ngụy vương nói:
" Tiên- sinh khổ não thế ư?
Trang tử nói:" Nghèo, chứ không khổ- não. Kẻ sĩ có Đạo- Đức, Lão bao giờ khổ. áo rách, giày hư là nghèo, không phải khổ. Đó chẳng qua là vì không gặp thời mà thôi. Phàm con khỉ con vượn nhảy nhót đặng thong thả là nhờ gặp được rừng cây to cành dài, trơn tru dai dẻo. Dù cho bậc thiện xạ như Phùng- Mông cũng không sao hạ nó được. Nếu nó rủi gặp phải cây khô, gai góc, thì sự hoạt động ắt khó- khăn chậm chạp. Cũng thời một con thú, mà sự cử- động dễ khó khác nhau, chẳng qua vì gặp phải hoàn- cảnh không thuận làm cho nó không tự- do dùng tận sở- năng của nó. Nay, sanh không nhằm thời, trên thì hôn- má, dưới thì loạn- tặc lại muốn không cực nhọc vất vả, có được không?"




***
Tuy là nghèo, mà lòng vẫn luôn-luôn thanh- cao, không bao giờ chịu bó thân trong cảnh vinh hoa phú quý. Tài Trí ấy, nếu muốn lợi danh, ắt hẳn đã có lợi danh lập- tức. Nhưng, ông một mực chối từ…
Sở Uy- Vương đã từng nghe danh tài của ông, đã từng vời ông ra làm khanh- tướng.


" Trang tử câu trên sông Bộc. Sở- Vương sai hai quan đại phu đem lễ vật mời ông ra làm quan. Trang tử cầm cần câu không nhúc nhích cũng không thèm nhìn lại, nói:" Tôi nghe vua Sở có con thần quy, chết đã ba nghìn năm. Vua Sở quý nó và cất trên miếu đường. Con quy ấy, chịu chết để lưu lại cái xương của mình cho người sau quý trọng hay lại chịu thà sống mà kéo lê cái đuôi của mình trong bùn?" Hai vị đại- phu nói:" Thà sống mà kéo lê cái đuôi trong bùn còn hơn!"
Trang tử nói:" Thôi, về đi. Ta đây cũng chịu kéo lê cái đuôi của mình trong bùn…" 


(Thu- Thủy)

***
Ở mục Lão Trang Thân Hàn Liệt Nguyên trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đoạn bàn về nhân cách của ông:" Uy- vương nước Sở nghe nói Trang Châu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời ra làm Tướng. Trang Châu cười, bảo với sứ giả:" Cái lợi của nghìn vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng quả cũng quý thật. Nhưng riêng ông chả thấy con bò tế hay sao? được người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn- vẻ để đưa vào Thái- miếu. Lúc ấy dù có muốn được làm con lợn côi há còn được nữa hay không? ông hãy đi đi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước kia trói buộc được ta…"

 http://vnthuquan.net/
Arrow

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/


Được sửa bởi Tri Âm Quán ngày Tue Oct 08, 2013 5:41 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Thu Aug 08, 2013 11:29 am

***
" Nước Tống, có Tào- Thương, được vua sai đi sứ nước Tấn. Khi ra đi, số xe vừa đủ đi. Đi sứ nước Tần, đẹp lòng vua Tần, được ban thêm trăm cỗ xe.
Khi về Tống, gặp Trang tử, nói:" Phàm sống trong chốn cùng lư, ngõ hẹp, áo giày xốc xếch, thiếu hụt, khốn đốn cùng khổ như ông, Thương này không thể chịu được. Làm cho bực chủ muôn xe vừa ý, để hậu thưởng trăm xe, đó là chỗ sở trường của Thương này vậy".

Trang tử nói:" Tôi nghe nói Tần- vương có bệnh, triệu thầy thuốc vào chữa. Nếu mổ được mụt ung của ông ta, thì được thưởng một xe. Còn ai liếm mụt ung, thì được thưởng năm xe. Cách trụ càng hạ tiện bao nhiêu, thì số xe ban thưởng càng được tăng thêm bấy nhiêu. ông đã trị bệnh Tấn- vương cách nào mà được nhiều xe đến thế?" (Liệt- ngự- khẩu)

 
***
" Huệ- tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. nhưng, có kẻ nói với Huệ- tử:" Trang tử mà qua đây, là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc." Huệ- tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.
Trang tử hay chuyện, không đi.
Sau rồi lại đến. Gặp Huệ- tử, Trang tử bảo:" Phương Nam có con chim tên là Uyên- Sồ, ông có biết không? Uyên- sồ từ biển Nam bay qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp nước suối trong thì không uống. Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng thấy Uyên- sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên- sồ đừng đáp xuống. Nay, vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?"
(Thu- Thủy)


***
Theo truyền thuyết thì Trang tử giao du rất thân mật với Huệ- tử, tên là Thi, cũng là người Tống, và thường hay biện- nạn với nhau luôn. Trong sách Trang tử có rất nhiều sự tích về sự tranh luận của hai nhà, cho ta thấy nhân- sinh- quan, cũng như lập- trường tư- tưởng của đôi bên, khác nhau xa, mặc dù hai bên cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
" Huệ- tử nói với Trang tử: Ngụy- Vương thưởng tôi một giống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng đến năm thạch. Dùng nó đựng nước, nó nặng, không cất nhấc được. Bổ nó ra làm bầu, thì lại không còn dùng được chỗ nào. Đâu phải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô dụng nên tôi đập bỏ nó đi.
Trang tử nói: Thế là ông vụng về chỗ đại dụng nó. Nước Tống có người khéo chế được món thuốc chữa răn nứt da tay, đời đời chuyên làm nghề ươm tơ. Có người hay biết, đến xin mua phương thuốc đó một trăm lượng vàng. Anh ta bèn nhóm thân tộc bàn rằng: Nhà ta đời đời làm nghề ươm tơ, lợi không hơn số vàng ấy, vậy xin để cho bán.
Người khách được phương thuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước Việt có nạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa Đông, thủy chiến với người nước Việt, người Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt đất mà phong thưởng cho anh ta. Cũng thời một phương thuốc trị rạn nứt da tay, mà một người được phong, một người không ra khỏi cái nghề ươm tơ; đó là tại chỗ biết dùng hay không biết dùng mà khác nhau vậy.
Nay ông có trái dưa nặng đến năm thạch, sao không biết dùng nó làm trái nổi mà thả qua sông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ bầu tan, không có chỗ đắc dụng? Thì ra vì cái lòng của ông hẹp hòi chưa trực- đạt đó".
(Tiêu- Diêu- Du)
***
" Một khi khác, Huệ- tử nói với Trang tử:" Tôi có cột cây to, người ta gọi nó là cây Vu. Gốc nó lồi lõm không đúng dây mực. Nhánh gốc nó thì cong queo không đúng quy củ. Đem trồng nó ở đường cái, người thợ mộc cũng không thèm nhìn. Nay lời nói của ông to lớn mà vô- dụng, nên người người đều không thèm nghe."
Trang tử nói:" Ông riêng chẳng thấy con mèo rừng đó sao? Co mình đứng núp, nhìn vật đi rong, nhảy tây nhảy đông, không hiềm cao thấp, kẹt trong dò bẫy, chết nơi lưới rập. Đến như con thai ngưu, lớn như vầng mây che một phương trời, kể ra cũng là to thật, nhưng không thể bắt được chuột. Nay ông có cây to, lại sợ nó vô dụng. Sao không đem nó trồng nơi tịch mịch, giữa cánh đồng rộng bao la. Khách ngao du không làm gì, ngồi nghỉ dưới gốc nó, khách tiêu diêu nằm nghỉ dưới bóng nó. Nó sẽ không chết yểu vì búa rìu, cũng không sợ vật nào làm hại. Không có chỗ nào có thể dùng được, thì khốn khổ từ đâu mà đến được?"

(Tiêu- Diêu- Du)

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 09, 2013 5:00 pm

***
" Huệ- tử gọi Trang tử mà nói:" Lời của ông vô- dụng". Trang tử nói:" biết cái chi là vô dụng, thì cũng đã biết nó sao là hữu dụng. Như đất rộng, người ta cho nó là hữu dụng, vì nhờ nó mà đi được. Nhưng, nếu trật chân té chìm tận suối vàng, người ta còn gọi nó là hữu dụng nữa không?


Huệ- tử nói: Vô- dụng.
Trang tử nói: Vậy thì rõ vô- dụng là hữu- dụng đó."
(Ngoại- vật)




***
Ở thiên Thu- Thủy, thuật rằng:
" Trang tử cùng Huệ- tử đứng chơi trên cầu hào thành. Trang tử nói:" Cá xanh, bơi lội thung dung. Cá vui đó." Huệ- tử nói:" Ông không phải là cá, sao biết cá vui?"
Trang tử nói:" Ông không phải tôi, sao biết tôi không biết!"
Huệ- tử nói:" tôi không phải ông, nên không thể biết được ông, còn ông không phải cá, ông cũng không sao biết được cái vui của cá."
Trang tử nói:" Xin xét lại câu hỏi đầu. Ông hỏi tôi làm sao biết được cá vui? Đã biết là tôi biết, ông mới có hỏi" làm sao mà biết"… Thì đây, làm thế nầy: tôi đứng trên hào thành mà biết được".
(Thu- Thủy)




***
Về sau, Huệ- tử mất. Một khi Trang tử đi qua mộ ông, tỏ ý thương tiếc:" Từ khi phu- tử mất, tôi còn cùng ai chất vấn, bàn bạc được nữa!"
Gia- đình ông như thế nào, sử không thấy nói. Chỉ biết ông có vợ, và vợ ông chết.
" Vợ Trang tử chết, Huệ- tử đến điếu. Thấy Trang tử ngồi, duỗi xoác hai chân, vừa vỗ bồn, vừa ca.
Huệ- tử nói: Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng đã là quá rồi, còn vỗ bồn ca, không phải thái quá sao?
Trang tử nói: Không. Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng. Nhưng nghĩ lại hồi trước, đó vốn là không sinh. Chẳng những là không sinh, mà đó vốn là không hình, mà đó vốn là không khí. Đó chẳng qua là tạp- chất ở trong hư không mà biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Sinh, hình, khí, tử có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa hành- vận. Vả lại, người ta nay đã yên nghỉ nơi Nhà- Lớn mà tôi cứ than khóc chẳng là tự nói không thông Mạng ư? Nên tôi không khóc."
(Chí- Lạc)




***
Trang tử mất vào năm nào, thì không thấy có sách nào ghi chép. Chỉ biết rằng lúc" Trang tử gần chết, các đệ tử muốn hậu táng, nhưng Trang tử không cho. Trang tử nói:" Ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh- tú làm ngọc châu, vạn- vật làm lễ tống. Đám táng của ta như vậy, không đủ sao? Mà còn thêm chi cho lắm việc!"
Đệ tử thưa:" Chúng con sợ diều quạ ăn xác Thầy!"
Trang tử nói:" Trên thì diều quạ ăn, dưới thì giòi kiến ăn. Cướp đây mà cho riêng đó, sao lại có thiên lệch thế!"


(Liệt- Ngự- Khẩu)

 

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: NỘI THIÊN 2   Sun Aug 11, 2013 7:20 pm

II. UYÊN- NGUYÊN CỦA HỌC- THUYẾT TRANG TỬ:


Cái học của Trang tử, tuy do Lão tử mà ra, nhưng biệt lập ra một phái riêng: phái Trang học.
Sử- Ký cho rằng" cái học của ông không đâu là bàn không đến, nhưng gốc ở lời dạy của Lão tử…" (1)
Phê- bình học- thuyết Trang tử, thiên Thiên- Hạ trong sách Trang tử có nói:" Đạo vẫn thâm mật, vô hình mà biến hóa vô thường. Chết, Sống cùng Trời Đất ngang nhau, cùng thần minh qua lại và lui tới mà thấy không thiết- thực. Vạn- vật bao la mà lúc trở về, không thêm cho Đạo. Đó là chỗ nghiên cứu của người xưa. Chỗ đó Trang Châu nghe qua, đẹp ý. Muốn truyền- bá nó ra, Trang Châu mượn câu chuyện mậu- ngộ, tiếng nói hoang- đường, lời văn không bền, thường phóng- túng mung- lung mà không cao dị… Trang Châu thấy đời chìm đắm trong ô- trọc, không hiểu được lời mình nên dùng" chi ngôn" mà gieo khắp, dùng" trùng ngôn" làm thực sự, dùng" ngu ngôn" cho rộng hiểu. Rồi riêng một mình lại qua cùng trời đất tinh- thần mà không ngạo- nghễ vạn- vật không hỏi tội thị phi, lại sống chung cùng thế- tục. Sách của Trang Châu thì khôi- vĩ mà dịu dàng, không hại. Lời tuy sâm- si, mà thầy đặng ý răn lòng khi trá. Chỗ sung- thực của đó không dừng đặng. Trên thì dạo cùng tạo vật, dưới bạn cùng" ngoại tử sanh, vô chung- thủy". Bản nguyên của đó thì hoằng- đại mà sáng sủa, sâu rộng và phóng túng. Tông chỉ của đó có thể thích- hợp với bậc thượng- trí. Tuy nhiên, tông- chỉ và bản- căn đó đều ứng theo tạo hóa mà đạt đến vạn- vật. Lý của nó thì không cùng."


(Thiên- hạ)

 
Như vậy, ta thấy rằng học thuật của Lão và Trang, có chỗ không đồng nhau.
Lão tử cho rằng" cứng rắn thì dễ bị bể nát, nhọn bén thì dễ bị mòn lụt"; và" Kiên cường giả, tử chi đồ" (chương 76) (cứng và mạnh hơn là bạn của cái chết) , cho nên ông chỉ cho con người con đường để mà tránh khỏi sự đổ nát mòn gẫy…" Trì nhi doanh chi, bất như kỳ dĩ; suy nhi chuyết chi, bất khả trường bảo, kim ngọc mãn đường, mạc chi năng thủ; phú quí nhi kiêu, tự di kỳ cữu; công toại thân thối: thiên chi đạo". (Ôm giữ chậu đầy, chẳng bằng thôi đi. Dùng dao sắc bén, không bén được lâu; vàng ngọc đầy nhà, khó mà giữ lâu; giàu sang mà kiêu, tự vời họa ưu; nên việc lui thần, đó là đạo Trời) . (Đạo Đức Kinh chương 9) .
Trang tử thì chủ trương sự" vô chung- thủy, ngoại tử sinh", cho nên chỗ mà Lão tử thắc- mắc chăm- chú, thì Trang tử lại nhìn với cặp mắt thản nhiên, lạnh- lùng như không đáng kể.
***

 Trong thời kỳ Tiền Hán (2) , tư- tưởng của Lão học được truyền bá, còn tư tưởng của Trang học thì mãi đến thời Hậu- Hán (3) mới được đề cập đến và phổ- biến.
Buổi đầu nhà Hán, danh từ Hoàng- Lão được xưng- tụng và phổ- thông, nhưng đến cuối nhà Hán (4) mới đổi ra thành danh- từ Lão Trang.
Các nhà chú giải Lão tử, sống vào khoảng đầu nhà Hán, không hề nói đến tên Trang tử, còn các nhà chú- giải Trang tử thì thuộc về khoảng nhà Tần (265- 420) sau Tây- lịch kỷ- nguyên, tức là triều- đại nối liền với nhà Hán (Tam- Quốc) . Cho nên, các học giả đời Hán, khi nói đến Lão học là chỉ nghĩ đến Lão tử mà thôi, nghĩa là chỉ quan tâm đến vấn đề đối phó với thời cuộc. Cho nên trong Nghệ- Văn- Chi sở dĩ cho rằng Lão học (tức là cái học của Lão tử) là" phương- pháp của các bậc vương- đạo tại- vị", là vì thế. Thật vậy, Lão tử soạn quyển Đạo- Đức Kinh là cho các nhà cầm quyền trị nước thời bấy giờ: ông đề- xướng giải- pháp" vô- vi nhi trị".
Tư- Mã- Thiên nói về cái học của Lão Trang có viết:" Triết- lý của Trang tử, khác với Lão tử, lại muốn siêu- thoát khỏi vấn- đề nhân- gian thế- sự. Khi ông nói đến các vì vua đầu tiên của nhà Hán, cho rằng các bậc ấy lấy" vô vi nhi- trị" là có ý muốn nói rằng các bậc trị nước ấy áp dụng triết lý của Lão tử. Chỉ đến cuối đời nhà Hán (220 sau T. L) thì người ta mới bắt đầu chú ý đến Huyền- học, bấy giờ sách của Lão tử cũng được người ta dùng cái học của Trang tử mà giải thích. Như vậy ta thấy rằng, tuy khởi thủy hầu như lập trường triết- lý của hai nhà đứng riêng nhau mà vẫn có sự liên hệ với nhau luôn."
Chỗ tương đồng của Lão tử và Trang tử là cả hai đều cùng một quan niệm về Đạo và Đức, và cả hai đều chống đối tư tưởng truyền thống và chế độ đương thời. Và, vì vậy mà Tư- Mã- Thiên đặt tên học- phái nầy là Đạo- Đức Gia, vì ông cho rằng hai quan niệm Đạo và Đức là nền tảng chung của Lão học.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Mon Aug 12, 2013 2:19 pm

Trang tử sống vào khoảng nửa thế kỷ thứ ba trước Tây lịch kỷ- nguyên (369- 298 trước T. L kỷ- nguyên) tức là thuộc về một thời- kỳ hỗn- loạn nhất của Trung- Hoa: thời Chiến- quốc. Bởi vậy, có người cho rằng" trước một hoàn- cảnh xã hội nhiễu nhương mà phải trái rối bời, thật giả không phân, chúng ta hẳn không lấy chi làm lạ mà thấy Trang tử chủ trương tư tưởng siêu nhiên, đem cặp mắt bình thản mà lạnh lùng mà nhìn xem xã hội sự vật". Nói thế, không hẳn là không có lý do, vì nếu xét chung tư tưởng của Trang tử, ta thấy ông cực lực phản đối hầu hết mọi học thuyết, chế độ của đương thời…
ở thiên Tề- Vật- Luận, ông nói:" Cố hữu Nho, Mặc chi thị phi, dĩ thị kỳ sở phi, nhi phi kỳ sở thị". (bởi vậy mới có cái Phải Quấy của Nho Mặc. Nho Mặc thì lấy Phải làm Quấy, lấy Quấy làm Phải)
Đại diện cho Nho- học thời bấy giờ thì có Mạnh- tử; còn đại diện cho Mặc- học thì có Tống Hinh, Huệ- Thi và Công- tôn Long thì đại diện cho nhóm danh gia.
Ở thiên Tề- Vật- Luận ông nói:" Vị thành hổ tâm nhi hữu Thị Phi, thị kim nhật thích Việt nhi tích chi dã… Cổ dĩ kiên bạch chi muội chung" (Lòng mình vì chưa thành mà có Phải Quấy. Nên chi ngày hôm nay đi sang nước Việt mà từ bữa hôm qua đã tới đó rồi vậy… Cho nên, suốt đời cam chịu tối tăm vì thuyết" Kiên Bạch") .
Câu" kim nhật thích Việt nhi tích chí dã" là ám chỉ biện- thuyết của Huệ Thi; còn câu" dĩ kiên- bạch chi muội chung" là nói về thuyết Liên bạch của Công- tôn Long.
đó là những chỗ mà Trang tử phê bình học thuyết của người đồng thời, đem cái thuyết" tề thị phi, đồng dị, tiểu đại" của ông ra mà châm đối các nhà thích dùng bịên luận. Theo ông thì" đại diện bất ngôn", còn những biện giả trên đâu chỏ là những bọn người biện đặt. (tiểu biện) .
Thời ấy có Tử- Hoa- tử chủ trương sự" toàn sinh vi thượng" và Đảm- Hà chủ trương" vị- thân, bất vị quốc", đều là những kẻ thừa hưởng cái học của Dương- Chu. Trang tử đem cái thuyết Tề- Vật để đánh đổ lòng tư- kỷ, chia phân Nhĩ- Ngã của người đồng thời còn sống thiên trong giới Nhị- nguyên. Là vì, theo Trang tử, hễ còn nói" vì mình" tức là còn thấy chỉ có mình mà không thấy có người, trong khi sự thật thì" Vật Ngã vi Nhất".
Ở thiên Đại- Tông- Sư ông viết: Cố chi chân- nhân, bất tri duyệt sanh, bất tri ố- tử… Bất tri sở dĩ sanh, bất tri sở dĩ tử, bất tri tựu tiên, bất tri tựu hậu" (Bậc chân nhân đời xưa, không tham sống, không ghét chết… Không biết chỗ sở dĩ sống, không biết chỗ sở dĩ chết, không biết chỗ đến trước, không biết chỗ đến sau) … Nghĩa là người đạt Đạo phải là kẻ đứng trên vấn đề Sanh, Tử, không vị kỷ, không quá chú trọng đến bản thân mà suy tính lợi hại quá đáng như các chủ trương nói trên.
Phản đối những tư tưởng vị kỷ, tức là phản đối lòng tham lam ích kỷ, ông lại cũng phản đối cả sự" Xá- ký thích- nhơn", nghĩa là bỏ cái chân- tanh của mình mà chạy theo kẻ khác. ở thiên Đại- Tông- Sư ông nói:" Hành danh thất kỳ, phi sĩ dã. Vong thân bất chân, phi dịch nhân dã. (Làm theo danh, mà bỏ mất mình, không phải là kẻ sĩ. Làm mất thân mình, không rõ cái lẽ chân thật nơi mình, cũng chẳng phải là kẻ sai được người vậy) . Ông cho rằng" như Hồ- Bất- Giai, Vụ- Quang, Bá- Di, Thúc- Tề, Cơ- Tử, Tử- Dư, Kỷ- Tha, Thân Đồ- Địch, thị dịch nhân chi dịch, thích nhân chi thích nhi bất tự thích kỳ thích giả dã. (Đại- Tông- Sư)
Và, như Lão tử, ông cũng cực lực phản đối Nhân, Nghĩa của phái hữu- vi thời ấy. Cái học" trục- vật" và sự" cầu- tri" cũng bị ông đả phá:" Ngô sinh đã hữu nhai, nhi tri đã vô nhai. Dĩ hữu nhai, tùy vô nhai, đãi hĩ!"
 

(Dưỡng-Sinh- Chủ) .

 ***
Tóm lại, đối với thời đại, ông phản đối hầu hết các học thuyết cùng chế độ thời đó: phản đối Nho, Mặc, phản đối nhóm danh gia biện thuyết như Huệ- Thi, Công- Tôn- Long, phản đối lòng vị- kỷ, trọng tử- sinh, sát lợi- hại, phản đối cả Nhân, Nghĩa và cái thói" cầu- tri", " trục- học", " xá- kỷ thích nhơn", nhất là những hành động hứu- vi của nhóm pháp- gia thời bấy giờ.
Tuy nhiên sự phản đối ấy của Trang tử không phải là lối phản đối công kích của người phản thế (ghét đời là vì bất mãn đối với đời) mà thực ra là lối lập- ngôn đặc biệt của người đã" vượt qua bến bên kia" " đáo bỉ ngạn", theo danh từ nhà Phật, con người giải thoát" để trở về nguồn cội" của cái" Sống Một" mà ta sẽ thấy trình bày sau đây.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: NỘI THIÊN 3   Tue Aug 13, 2013 9:51 am

III. SÁCH CỦA TRANG TỬ

Sách Trang tử, theo Hán- thư Nghệ- Văn- Chí, thì có đến năm mươi hai (52) thiên. Nay chỉ thấy còn có ba mươi ba (33) thiên. Có phải vì người sau (Quách- Tượng) dồn lại phân lại thiên chương, hay vì người ta đã làm lạc đi 19 thiên kia?
Ba mươi ba thiên, lại chia ra làm 3 phần (theo bản của Quách- Tượng là bản thông- hành hiện thời) : Nội- thiên, Ngoại- thiên và Tạp- thiên.
Nội- thiên gồm có 7 thiên:
Tiêu- Diêu- Du
Tề- Vật- Luận
Dưỡng- Sinh- Chủ
Nhơn- Gian- Thế
Đức- Sung- Phù
Đại- Tông- Sư
Ứng- Đế- Vương
Ngoại- thiên gồm có 15 thiên:
Biển- Mộu
Mã- Đề
Khứ- Cự
Tại- Hựu
Thiên- Địa
Thiên- Đạo
Thiên- Vận
Khắc- ý
Thiện- Tánh
Thu- Thủy
Chí- Lạc
Đạt- Sinh
Sơn- Mộc
Điền- Tử- Phương
Trí- Bắc- Du
 
Tạp- thiên gồm có 11 thiên:
Canh- Tang- Sở
Từ- Vô- Quỷ
Tắc- Dương
Ngoại- Vởt
Ngụ- Ngôn
Nhượng- Vương
Đạo- Chích
Duyệt- Kiếm
Ngư- Phụ
Liệt- Ngữ- Khẩu
Thiên- Hạ
 
Sự phân biệt chương thứ như trên, phần đông các học giả đều cho rằng không phải do chính tay Trang tử sắp đặt, mà do người sau an bài.
Tô- Đông- Pha, trong Trang tử Từ Đường Kỷ cho rằng" phân biệt các chương, đặt tên các thiên là do nơi thế tục, không phải bản- ý của Trang tử".
Còn Đường- Lan, trong Lão Đam Đích- Tánh- Danh Hòa niên đại khảo và Cổ- sử biện thì cho rằng" sự phân- biệt Nội, Ngoại và Tạp thiên đều là do tay của Lưu- Hướng cả".
Căn cứ vào văn- thái và văn- mạch mà xem, thì thấy chỉ có Nội- thiên là biểu- thị được chỗ trọng- yếu của học thuyết Trang tử mà thôi. Còn Ngoại- thiên và Tạp- thiên, thì phần nhiều rời rạc và chỉ bàn đi bàn lại những tư tưởng đã phô- diễn ở Nội- thiên mà thôi.
Phàm nghiên cứu về một học- thuyết nào, sự tìm tài- liệu chính- xác và phê- bình tài- liệu là vấn đề quan trọng nhất. Có được như thế thì sự nghiên cứu của ta mới được chính- đính, khỏi sự xuyên tạc và bất công, mang tội vu oan cổ nhân.
Phân biệt được sự chân- ngụy trong các thiên chương trong sách Trang tử là việc rất gay go phiên phức. Trong quyển Trang tử tinh hoa (5) , đã có dành riêng một chương khá đầy đủ cho vấn đề này, nên không lặp lại nơi đây làm gì nữa.
Nay chỉ tóm lại đại- khái như sau: Nội- thiên rất khác với Ngoại và Tạp- thiên cả về Văn- Nghệ, Tư- Tưởng và thần thái trong câu văn. Nếu Nội- thiên do Trang tử viết ra, thì Ngoại và Tạp thiên chắc chắn do kẻ khác viết, không thể là cùng một người được. Tuy vậy, trong Ngoại và Tạp thiên thỉnh thoảng cũng có một vài chương mà thần- văn lạ lùng hùng- vĩ, đã chẳng những văn hay mà tứ cũng thâm, nếu không phỉa do những kẻ có một học- lực uyên thâm như Trang tử, chắc cũng khó lòng mà viết ra cho được.
Cho nên, một phần cũng có thể cho là chính tay Trang tử viết ra, còn phần nhiều chắc chắn là do kẻ khác học Trang tử mà viết ra.
Như ở Ngọai- thiên, các thiên Biền- Mộu, Mã- Đề, Khứ- Cự, Khắc- ý, Thiện- TánThiên thì văn khí bình diễn, lời nói rất tầm thường, thiển cận. Toàn thiên chỉ có một ý, nhưng mà cứ nói đi nói lại mà thôi, dường như là những bài sách luận của hậu học.
Thiên Thiên- Vận nói về việc Khổng- tử viếng Lão tử để hỏi Lễ thì lại giống với câu chuyện chép ở Sử- Ký của Tư- Mã- Thiên, ta lại thấy rằng văn trong Thiên- Vận rất tạp nhạp, khí- tượng tầm thường không sao theo kịp văn- từ trong Sử- ký, có khi còn cao hơn một bực là khác. Cho nên, chắc chắn thiên Thiên- Vận ở Ngoại- thiên là ngụy thơ, do kẻ hậu học thêm vào.
Các thiên Đạo- Chích, Ngư- Phụ, Duyệt- Kiếm, Nhượng- Vương thì văn từ thiển- bạc, những chỗ chỉ trích Khổng- tử đầy ngạo nghễ, thóa mạ chỉ nói để cho hả hê lòng phẫn uất, không giống thần- thái của Trang tử ở Nội- thiên.
Còn như các thiên Thiên- Đạo, Thiên- Địa, Chí- Lạc, Sơn- Mộc, Tại- Hựu thì tư tưởng tạp nhạp, người viết có khi chưa thật hiểu tinh thần tư tưởng của Trang tử nên nhiều khi xuyên tạc, có khi dùng lời nói mồm mép của Nho- gia mà giảng về Trang tử.

Đó đều là những bài do các học giả theo phái Lão Trang về sau viết ra cả.

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Thu Aug 15, 2013 1:13 pm

Đối với Nội- thiên, học giả phần đông đều nhìn nhận rằng rất có thể đều do chính tay Trang tử viết ra.
Nhưng Đường- Lan cho rằng, riêng chương Tử- Tang- Hộ ở thiên Đại Tông- Sư không giống với mấy chương trước mà gọi ngay Khổng- tử. Riêng tôi, cũng hoài nghi chương này, là vì trong thiên Đại- Tông- Sư, tư tưởng của Trang tử rất thuần nhất đối với vấn- đề Sanh- Tử. Trang tử cho rằng Sanh- Tử là một thiên về cái nghĩa của Sanh- tử. Tử Tang- Hộ chết, hai người bạn đánh đàn và ca bên xác Tang- Hộ:" Than ôi! Tang- Hộ! Than- ôi! Tang- Hộ! Đó trở về cái chân, còn chúng ta còn là người! Ôi!". Thế là tự tiếng ca ấy, ta thấy những người này mừng cho Tang- Hộ, mà riêng buông cho mình còn phải sống làm người. Như vậy, ta thấy toàn chương biểu thị cái ý" vui chết buồn sống", rất trái với ý tưởng của Trang tử ở Tề- Vật cùng những chương khác ở thiên Đai- Tông- Sư nữa.
Vậy, riêng một chương nầy, tôi tin rằng không phải của Trang tử viết ra, và kẻ phân thiên chương vì xem xét không kĩ nên chép lầm vào đây. Ta nên bỏ hẳn chương nầy và sắp nó qua Ngoại hay Tạp thiên.
Thiên Nhơn- Gian- Thế cũng đáng hoài nghi là ngụy- thơ nữa. Là vì thế- tài chung của Nội- thiên không giống với thiên nầy. Trong các thiên khác ở Nội- thiên thì đều có luận, có dụ.
Như ứng- Đế- Vương thì có trước dụ, sau luận, Đại- Tông- Sư thì trước luận, sau dụ. Đức- Sung- Phù thì trước dụ, sau luận; Dưỡng- Sinh- Chú thì trước luận, sau dụ. Chỉ như hai thiên Tiêu- Diêu- Du và Tề- Vật- Luận thì dụ và luận giao lẫn nhau hồn nhiên như một thể. Như vậy ta thấy rằng ở Nội thiên, văn pháp tới lui có quy- tắc lắm.
Duy có Nhơn- Gian- Thế thì không phải vậy nữa:
Chương thứ nhất: nói về chuyện Nhan- Hồi muốn du- thuyết Vệ- Quân, hỏi ý nơi Khổng- tử.
Chương thứ hai: chuyện giữa công- tử Cao đi xứ nước Tề.
Chương thứ ba: chuyện giữa Nhan- Hạp và Cừ- Bá- Ngọc.
Chương thứ tư: chuyện người thợ mộc tên Thạch qua nước Tề gặp cây lịch- xã.
Chương thứ năm: chuyện Nam- Bá Tử- Kỳ thấy cây đại mộc.
Chương thứ sáu: chuyện một người què ở nước Tề.
Chương thứ bảy: chuyện Khổng- tử qua nước Sở gặp Cuồng- Tiếp- Dư.
Toàn thiên thuật ròng là cố- sự, không giống bút pháp của sáu thiên kia. Như vậy, không phải là do một người viết ra.
Hơn nữa, ý nghĩa trong thiên Nhơn- Gian- Thế nầy cũng không liên quan: chương thứ 4, thứ 5, thứ 6 đều lấy tỉ- dụ những vật nhờ bất tài mà được an toàn, không ăn chịu gì với tư tưởng của những chương trên. Chương 4 và 5 cũng đều là những ý tưởng trùng- phục.
Chương 7 nói về chuyện Khổng- tử qua nước Sở gặp Cuồng- Tiếp- Dư, thì các đoạn lại không hợp nhau. ở đoạn nhất và đoạn nhì ta thấy Khổng- tử là người sáng suốt về Đạo, thay lời Trang tử mà bàn về Đạo Đức. Nhưng qua đoạn chót, hốt nhiên Khổng- tử lại biến thành người ám muội. Thế là trước sau, bút pháp không thông vậy.
Chương thứ 8, nói về việc Khổng- tử qua Sở thì câu chuyện cũng như văn- từ trong bài ca đều lại giống hệt văn của sách Luận- Ngữ. Trong Luận- Ngữ, Thiên- Vi- tử nói:" Sở Cuồng Tiếp Dư ca nhi quá Khổng- tử viết:" Phụng hề! Phụng hề! Hà đức chi suy, vãn giả bất khả gián, lai giả du khả truy. Dĩ nhi! Dĩ nhi! Kim chi tùng chánh giả đãi nhi"
Trong Nhơn- gian- Thế thì viết:" Sở Cuồng Tiếp Dư du ký môn viết:" Phụng hề! Phụng hề! Hà như đức chi suy dã! Lai thế bất khả đài, vãng thế bất khả truy dã. Thiên hạ hữu đạo, thánh nhơn thành yên, thiên hạ vô đạo, thánh nhơn sanh yên. Dĩ hồ! Dĩ hồ! Lâm nhơn dĩ đức! Đãi hồ! Hoạch địa nhi xu"
Sách Luận- ngữ có trước sách Trang tử, thì đây quả là Nhơn- Gian- Thế chép văn Luận- Ngữ. Lẽ nào Trang tử, một người khí phách phóng khoáng, lại đi bắt chước kẻ khác hay sao?
Huống chi, tư tưởng Trang tử ở Tiêu- Diêu- Du và Tề- Vật- Luận thì thật là rộng rãi, còn ở Nhơn- gian- thế thì lời lẽ lại rất câu chấp tầm thường như hạng nhà Nho, không giống tư tưởng ở Tiêu- Diêu và Tề- Vật:" dù gặp cánh nào, dù đến thế nào, giữ một niềm thờ cha là chí hiếu, thờ vua là chí trung…" (Nhơn- Gian- Thế) phải chăng là do mồm mép của nhà Nho?
Thế nên, thiên nầy cần phải loại ra khỏi Nội- thiên.
Tóm lại, chỉ có Nội- thiên là dùng được để nghiên cứu tư tưởng của Trang tử mà thôi. Nhưng phải loại thiên Nhơn- Gian- Thế, và chương thứ hai ở thiên Đại- Tông- Sư, tức là chương Tử Tang- Hộ vì là ngụy thơ. Bản dịch nầy cũng loại Nhơn- Gian- Thế ra khỏi Nội- thiên và sắp vào Ngoại- thiên.
***
Chú thích:
(1) " Kỳ học vi sở bất khuy, nhiên kỳ yếu bản quy vu Lão tử chi ngôn…" (Sử- Ký) .
(2) Tiền- Hán: (206 trước Tây- lịch Kỷ- nguyên) đến năm thứ 9 sau kỷ- nguyên T.L.
(3) Hậu- Hán: (25- 220 sau T.L kỷ- nguyên) .
(4) Đầu nhà Hán (khởi vào năm 206 trước Tây- lịch kỷ nguyên; cuối đời nhà Hán) khởi vào khoảng 220 sau T. L kỷ- nguyên, nghĩa là cách nhau khoảng trên 300 năm.

(5) Trang- tử tinh- hoa (cùng một tác giả) .

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 16, 2013 10:52 pm

Trang học rất thạnh về đời Ngụy Tần (220- 316) , cho nên sách vở chú giải Trang tử của thời ấy cũng rất nhiều.
Hương- Tú tự là Tử- kỳ (221- 300) , người đời Ngụy Tần có chú giải Trang tử, tuy trước ông cũng đã có cả chục nhà chú giải, nhưng đều là thiển bạc không nắm được yếu chí, không xiển minh nổi cái học của Trang Châu. Tần Thơ cho rằng chỉ có Hướng- Tú là người đầu tiên thông được chỗ huyền- chỉ của Trang học.
Nhưng ông chỉ chú giải đến thiên Thu- Thủy và Chí- Lạc thì chết. Về sau, đến đời Huệ- đế thì có Quách- Tượng (1) căn cứ vào chú giải của Hướng- Tú mà diễn giải rộng thêm ra. Bởi vậy về sau người ta thấy hai bản Hướng- tú và Quách- Tượng nghĩa- ký tương đồng như của một người viết ra vậy.
Còn bản cổ- nhất của Tư- Mã- Bưu (khoảng giữa nhà Tần (221) (trước G. S) , luôn cả bản chú giải của Thôi- Tuyền thì hiện thời mất cả. Qua thời Nam Bắc- Triều các nhà chú giải Trang cũng đông, nhưng chỉ còn lại bản của Quách- Tượng là cổ nhất thôi. Ngày nay sở dĩ người ta có thấy được một vài dấu vết của các nhà chú giải trên đây, là nhờ ở sách của Lục- Đức- Minh đời Đường. Trong bài Tự- Lục của Thích- Văn, Lục- Đức- Minh cho biết rằng Tư- Mã- Bưu có chú giải 21 quyển, 52 thiên, còn Thôi- Tuyến thì chú 10 quyển, 27 thiên, Hướng- tú chú 20 quyển, 26 thiên, Quách- tượng thì chú 33 quyển, 33 thiên.
Các nhà chú giải về sau rất nhiều, nhưng một số đông thiên về phê bình văn chương hơn là tư tưởng. Đại khái như đời nhà Minh có Châu- đắc- Chi trong Nam- Hoa Thông- Nghĩa; đời Thanh có Ngô- thế- thượng trong Trang tử giải; Tôn- Gia- Cầm trong Nam- Hoa- Thông; Lâm- tây- Trọng trong Trang tử Nhân; Lục- Thụ- Chi trong Trang tử Tuyết… đều là những tay sành về văn chương cả. Vì vậy, rất tiếc là các lời phê bình của các nhà ấy, yếu trọng nơi sự thưởng thức các câu văn, nhưng về phần tư tưởng lại không phát minh được điều gì mới lạ cả, cho nên phần tư tưởng của họ rất là loạn- chạc, rườm- rà, mờ tối không phát huy được cái yếu- chi huyền- diệu về phần tư tưởng của Trang Châu.
Hoặc họ là các học giả thiên về Thần- tiên phái, họ ghép Trang tử vào cái học Trường- sinh cửu thị. Như Chữ Bá- Tú, trong bộ Nam- Hoa Chân- Kinh Nghĩa- Hải- Soán- Vi, tôn Trang tử là Nam- Hoa Lão tiên.
Đời Tống, có Bích- Hư- Tứ, đời Minh có La- Miễn- Đạo đều lấy theo điển cố của Thần- tiên phái mà giải Trang tử.
Và lấy Thần- tiên học để mà giải Trang tử là phần rất đông. Chính người viết về Trang tử đây cũng đã gặp nhiều văn hữu hoặc học giả theo phái Thần- tiên cười nhạo và cho là chưa thấu đáo được ý nghĩa huyền diệu của Trang tử vì đã không biết thể theo Thần- tiên Đạo- thư (của Trương- Đạo- Lăng và nhất là Bão- Phác- tử) để giảng giải Trang tử.
Cũng có nhiều nhà chú giải thiên về Nho hoặc Phật, lấy tư tưởng của Nho- học hoặc Phật- học mà giảng Trang tử nữa. Như đời Tống có Lâm- Hi- Dật, đời Thanh có Lục- Thụ- Chi, Lưu- Hồng- Điền cho Trang tử là môn đồ của Khổng.
Đời Đông- Hán, có Chí- Độn, Tuệ- Lâm, Tuệ- Viễn cũng rất sành Lão Trang, nên dùng cái học ấy mà làm sáng thêm cho Phật- học. Qua đời Đường có Thành- Huyền- Anh; đời Minh có Lục- Tây- Tinh, Thích- Đức tha Nghĩa; đời Thanh có Trương- Thế- Lạc và gần đây có Chương- Thái- Viêm đều lấy Phật- điển mà giải Trang tử.
Trang tử là người văn học hoàn toàn. Kim- Thánh- Thán sắp ông vào hạng" đệ nhất tài tử" tưởng cũng không phải là quá đáng.
Luận về ông, Tư- Mã- Thiên có nói:" Sách Trang tử có hơn mười vạn chữ, đại để đều là ngụ ngôn… Văn ông khéo viết, lời lẽ thứ lớp, chỉ việc, tả tình để bài bác Nho Mặc. Tuy đương thời, những bậc túc- học uyên thâm cũng không sao cãi để gỡ lấy mình cho nổi. Lời văn của ông thì phóng- túng mênh mông, chỉ cầu lấy thích chí mà thôi. Cho nên từ các bậc vương công đều không ai biết được nổi ông là hạng người thế nào" (Sử- Ký) .
Từ đời Đường, Tống về sau, các bậc đại văn hào như Hàn- Dũ, Liễu- Tôn- Nguyên, Tô- Thức… đều sùng bái ca tụng không ngớt. Sách Trang tử, về phương diện văn học, là một áng văn kiệt tác.

Trang tử là người biết hàm dưỡng chơn- thần rất là đầy đủ, cho nên khí phách ngang tàng phóng- dật. Văn ông rất hồn nhiên như hơi mây trong núi bay ra, như nước trong nguồn chảy… Bàn về một lẽ cao siêu tuyệt- đích, có thể cảm mà không thể nói ra được bằng những lời nói thông thường nhị- nguyên, cho nên ông phải dùng đến" ngụ- ngôn" rồi mượn" trùng- ngôn" mà làm cho sáng tỏ thêm. Trong đó sự tích tuy có thật mà câu chuyện giả- thác lạ lùng. Đó là cách dùng cụ thể để mà giải thích trừu tượng. Khi lại dùng đến" chi- ngôn", tức là buột miệng nói ra, bất kể là đúng hay không với lịch sử. Cho nên văn chương của ông huyễn thực mà hư… như lẽ Đạo muôn màu. Thật là rất khác xa với văn- từ của" bách- gia chư- tử".

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: IV. HỌC THUYẾT CỦA TRANG TỬ:   Sat Aug 17, 2013 1:13 pm

IV. HỌC THUYẾT CỦA TRANG TỬ:


A. Đạo và Đức:
Triết học của Trang tử cùng với Lão tử có nhiều điểm không đồng, nhưng rất đồng về quan niệm Đạo và Đức.
Bàn về Đạo, sách Trang tử ở thiên Trí- Bắc- Du có giải rất rõ ràng:
" Đông- Quách- Tử hỏi Trang tử:
Cái gọi là Đạo ở đâu?
Không có chỗ nào là không có Nó.
Xin chỉ ra mới được!
Trong con kiến.
Thấp hơn nữa!
Trong cọng cỏ.
Thấp hơn nữa!
Trong miếng sành vỡ.
Thấp hơn nữa!
Trong cục phân.
Đông- Quách- Tử không hỏi nữa.


Trang tử nói:" Lời hỏi của ông, không đi đến đâu cả. Nó giống cách người giám thị dùng để trị dùng để trị giá heo: mỗi lần đạp trên lưng heo là mỗi lần ấn mạnh cẳng xuống thêm. Ông đừng có chỉ hẳn vào một vật nào có Nó, vì không có vật nào là không có Nó. Đạo là thế, mà lời nói cao cả cũng thế. Như ba tiếng nầy:" đều", " cùng", " cả thảy" tuy danh từ gọi có khác, mà tựu trung đều hàm cùng một ý."
Đạo là Nguyên- Lý tuyệt đối sinh ra Trời Đất Vạn- vật. Cho nên hễ có Vật, tức là có Đạo, nghĩa là" không có chỗ nào là không có Đạo".

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Sun Aug 18, 2013 12:05 pm

Thiên Đại- Tông- Sư nói:" Kìa Đạo thì có tình, có tin, không làm, không hiện, có thể nhận được mà không thể thấy được. Đạo thì tự bản tự căn, khi chưa có Trời Đất vốn đã tồn tại từ xưa. Nó làm ra các đấng thiêng liêng qủy thần, cùng Thượng đế; Nó sinh ra Trời, Đất; Nó ở trước Thái Cực mà không xem là cao, ở dưới lục- cực mà chẳng thấy là sâu; Nó sinh trước Trời Đất mà chẳng gọi là lâu, dài hơn Thượng Cổ mà chẳng gọi là già". (Phù Đạo hữu tình, hữu tín, vô vi vô hình; khả truyền nhi bất khả thụ, khả đắc nhi bất khả kiến; tự bản tự căn, vị hữu thiên địa, tự cổ dĩ cố tồn; thần quỷ thần đề, sinh thiên sinh địa, tại thái cực chi tiên nhi bất vi cao, tại lục cực nhi hạ chi bất vi thâm, tiên thiên địa sinh nhi bất vi cửu, trường ứ thượng cổ nhi bất vi lão)
Đạo là Nguyên- lý sinh ra Trời Đất Vạn- Vật nên gọi là" tự bản tự căn", nghĩa là tự mình là gốc, là rễ của mình, chứ không phải do một gốc hay một rễ nào khác ngoài mình tạo ra. Đạo cũng là" vô thủy vô chung", " thường tồn bất biến" và vạn vật dựa vào đó mà sinh sinh không dừng vậy.
***
Đạo, như ta đã thấy, biểu- hiện nơi vạn sự vạn vật, bởi vậy, không sự vật nào là không có cái tính" tự sinh", " tự trưởng", " tự hủy", " tự diệt" của nó. Như thế, ta có thể nói rằng sự" tự sinh, tự trưởng, tự hủy, tự diệt" của vạn- sự vạn vật chính là những hành động" tự vi, tự hóa" của mỗi sự vật trong đời, mà ta cũng có thể gọi đó là" chỗ tác- vi của Đạo" mà không sai, vì" không có vật nào là không có Đạo" ở trong cả. Hai chữ" tự- hóa" của Trang, chính là thuyết" vô- vi nhi vô bất vi" của Lão tử.
***
Còn quan niệm về chữ Đức của Trang tử như thế nào?
Thiên Thiên- Địa có nói:" Thuở thái- sơ của Trời Đất thì đã có cái Vô. Cái Vô ấy không có tên, và là nơi phát sinh ra cái Một, nhưng cái Một ấy cũng chưa có hình. Khi mà vạn vật" được cái Một ấy (2) cái đó gọi là Đức". " Thái sơ hữu Vô, Vô hữu Vô danh. Nhất chi sở khởi, hữu Nhất nhi vị hình. Vật đắc dĩ sinh, vị chi Đức."
Trong câu" thái sơ hữu Vô", chữ Vô đây là chỉ về Đạo. Câu" nhất chi sở khởi" của Trang tử " Vô là chỗ phát sinh ra cái Một" thì đồng với câu" Đạo sinh Nhất" của Lão tử trong Đạo- Đức- Kinh. Còn Đức tức là chỗ mà "vật đắc dĩ sinh" (vật nhận được mà sống) . Cho nên mới nói" Đức là chỗ" tự đắc của con người". " Tự đắc" là tự mình đã được của Tạo Hóa, của Tự- nhiên, của Đạo (3) . Hay nói một cách khác: Đức là cái Đạo biểu hiện nơi mỗi người mỗi vật, là những năng khiếu tự nhiên, không vậy không được, của mọi sự vật trên đời.

Đạo và Đức, tuy danh từ dùng để gọi có khác, nhưng vẫn là một. Có kẻ đã ví Đạo như nước. Nước là sông, biển, ao, hồ… cũng như ở bầu tròn, ống thẳng, dù có hình thức động tịnh khác nhau, nhưng đâu đâu cũng là nước cả.

B. Thuyết Thiên- Quân:
Trang tử, trong thiên Tề- Vật- Luận, dùng hai chữ Thiên- Quân để chỉ cái tác dụng của Đạo, là có ý chỉ cho ta thấy nó là một thứ triết học biến động nghĩa là" vận hành bất tức"
" Quân" là cái bánh xe quay tròn mà người thợ nung dùng để chế tạo những đồ vật có hình tròn. Chữ" Thiên- Quân" lại có chỗ viết là có ý nói về sự quân- bình, tùy cái bánh xe lưu chuyển, vòng bán kính của bánh xe bao giờ cũng bằng nhau, tự nhiên luôn luôn vẫn quân bình. ở thiên Ngụ- Ngôn có nói:" Vạn vật đều là một giống cả, không cùng hình mà thay nhau, trước sau như những cái vòng tròn, không thể phân biệt luân loại. Nên gọi là Thiên- quân. Thiên- quân, là Thiên- Nghê". " Vạn vật giai chủng dã, dĩ bất đồng hình tương thiện thủy tốt nhược hoàn, mặc đắc kỳ luân. Thị vị Thiên- quân. Thiên- quân giả, Thiên- Nghê dã".
Thiên Thiên Địa lại nói:" Trời Đất tuy lớn, mà sự biến hóa đều quân bình cả" (Thiên địa tuy đại, kỳ hóa quân dã.)
Như thế thì, Thiên- quân của Trang tử là nói về sự đắp đổi nhau của các giống vật mà biến hóa, " đồng hình" biến làm" bất đồng hình". Nhưng ở đâu mà lại, rồi sẽ đi đến đâu, thời sau cùng cũng không biết đâu là manh mối. Sự biến hóa giống như cái bánh xe quay tròn, nên gọi là Thiên- quân.
B. Thuyết Thiên- Quân:
Trang tử, trong thiên Tề- Vật- Luận, dùng hai chữ Thiên- Quân để chỉ cái tác dụng của Đạo, là có ý chỉ cho ta thấy nó là một thứ triết học biến động nghĩa là" vận hành bất tức"
" Quân" là cái bánh xe quay tròn mà người thợ nung dùng để chế tạo những đồ vật có hình tròn. Chữ" Thiên- Quân" lại có chỗ viết là có ý nói về sự quân- bình, tùy cái bánh xe lưu chuyển, vòng bán kính của bánh xe bao giờ cũng bằng nhau, tự nhiên luôn luôn vẫn quân bình. ở thiên Ngụ- Ngôn có nói:" Vạn vật đều là một giống cả, không cùng hình mà thay nhau, trước sau như những cái vòng tròn, không thể phân biệt luân loại. Nên gọi là Thiên- quân. Thiên- quân, là Thiên- Nghê". " Vạn vật giai chủng dã, dĩ bất đồng hình tương thiện thủy tốt nhược hoàn, mặc đắc kỳ luân. Thị vị Thiên- quân. Thiên- quân giả, Thiên- Nghê dã".
Thiên Thiên Địa lại nói:" Trời Đất tuy lớn, mà sự biến hóa đều quân bình cả" (Thiên địa tuy đại, kỳ hóa quân dã.)
Như thế thì, Thiên- quân của Trang tử là nói về sự đắp đổi nhau của các giống vật mà biến hóa, " đồng hình" biến làm" bất đồng hình". Nhưng ở đâu mà lại, rồi sẽ đi đến đâu, thời sau cùng cũng không biết đâu là manh mối. Sự biến hóa giống như cái bánh xe quay tròn, nên gọi là Thiên- quân.
***
C. Thuyết Vạn- Hóa:
Cứ theo phép ấy thì sự biến thiên của các giống vật đều không có mục đích, không có phương hướng… con đường đó của vạn sự vạn vật là một cái vòng tròn:" châu nhi phục thủy", chứ không phải là một con đường thẳng đi đến một mục tiêu nào. Trang tử không chủ trương Tiến- hóa, mà chủ trương Vạn hóa, hay là Tự-hóa.
Thiên Thu- Thủy nói:" Vạn- vật sinh ra, như đuổi như chạy; hễ động là có biến, không lúc nào mà không xê dịch. Sao lại như thế, mà sao lại chẳng như thế? ấy là vì cái lẽ" tự hóa" vậy! (Vật chi sinh giả, nhược sậu nhược tri, vô động nhi bất biến, vô thời nhi bất di, hà vi hồ, hà bất vi hồ. Phù cố tương tự hóa) .
Thiên Tại- Hựu nói:" Anh hãy chỉ cứ ngồi đây, không cần làm gì cả mà vạn vật tự hóa… vạn vật phồn thịnh, giống nào cũng trở lại nguồn gốc của mình. Vật nào cũng trở lại gốc của mình mà không biết". Trong câu văn này, quan trọng nhất là ở chữ" Phục".
ở thiên Thiên- Thụy trong sách Liệt- tử cũng có câu nói:" Tự sinh, tự hóa, tự có hình, tự có sắc, tự có tri, tự có lực, tự giảm, tự tăng". Thế là đều" tự nhiên nhi nhiên", " bất kỳ nhirn nhi nhiên", không có sự nhất định phải bảo tồn những hình thức cá biệt nào có ích, tiêu diệt những hình thức cá biệt nào có hại như cách tác dụng của luật Thiên- trạch (4) có mục đích, có phương hướng của thuyết Tiến- hóa Tây phương (5) .
Sở dĩ Trang tử không chủ trương Tiến- hóa, mà lại chủ trương Vạn- Hóa là vì theo sự nhận xét của ông, ông cho rằng không thể nào xét biết được lẽ chung thủy của Đạo, nghĩa là không thể nào biết được rằng Đạo bắt đầu như thế nào, và sự cùng tận của nó như thế nào. Như vậy, thì làm thế nào mà nhận thấy được cái phương hướng của nó theo chiều nào mà chủ trương Tiến- hóa được? Tiến- hóa chỉ là một ức thuyết của Tạo- Hóa, trong khi sự thật Trời Đất không thể biết đâu là khởi điểm, đâu là cùng tận, mà chỉ là một cái" vòng tròn" (Thiên- Quân) .
Thiên Tắc- Dương nói:" Vạn vật có sống mà không thấy đâu là cái gốc của nó, có chỗ xuất ra mà không thấy đâu là cái cửa của nó". Lại nói:" Người xét Đạo, không theo cho đến chỗ đã phế, cũng không suy cho đến chỗ chưa khởi: hễ bàn đến nó là phải thôi đi. Ta xét cái gốc của nó, ta thấy nó đi đến vô cùng, ta cầu đến cái ngọn của nó, ta lại thấy nó không bao giờ đứt. Không cùng, không dứt, thì còn bàn nói vào đâu được nữa. Vật, thì cũng một lẽ đó".

ở thiên Sơn- Mộc cũng nói:" Hóa muôn vật mà không biết nó thay đổi như thế nào, thời biết nó bắt đầu ra làm sao, mà cùng tận ra làm sao?"

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Mon Aug 19, 2013 11:52 am

Đối với nhân- sự cũng thế: phải biến thành quấy, quấy biến thành phải… không biết đâu là khởi điểm, không biết đâu là cùng tận… như trên một cái" vòng tròn"; Lớn; Nhỏ; Sanh; Tử; Dài; Ngắn; Có; Không; Cao; Thấp; Thành Hoại đều không sao phân biệt được (6) , không sao biết được đâu là chỗ khởi đầu của nó.
Thiên Thu- Thủy nói:" Lấy Đạo mà xem thì vật không có chi gọi là quý, là tiện, là ít, là nhiều cả. Chỉ có Một mà thôi. Lấy chỗ sai biệt mà xét, nhận thấy lớn mà cho là lớn, thì vạn vật không vật nào là không lớn, nhận thấy nhỏ mà cho là nhỏ, thì vạn vật không vật nào là không nhỏ… Lấy xu hướng mà xét, nhận cho phải là phải, thì vạn vật không vật gì là không phải, nhận cho quấy là quấy, thì vạn vật không vật gì là không quấy."
Thiên Đức- Sung- Phù nói:" Lấy chỗ khác nhau mà xét, thì gan và mật cách nhau như nước Sở nước Việt, nhưng mà lấy chỗ tổng mà xét, thì vạn vật đều là Một cả.
Cứ xem cái thuyết Tương đối ngày nay mà xem, ta sẽ thấy cũng không xa gì những điều nhận xét trên đây của Trang tử. Theo Tương- đối- luận thì quyết không có gì là cao, là thấp tuyệt đối; không có gì là dài, là ngắn tuyệt đối; không có gì là lớn, là nhỏ tuyệt đối: những tiếng như" thành"," hủy", " quý", " tiện", " thị", " phi", " hữu"," vô" toàn là những danh- từ tương đối, không phải là tuyệt đối. Cho nên cho rằng Trang tử là tị- tồ của thuyết" tương đối" không phải là quá đáng.
Cái luật Thiên- Quân của Trang tử lại bao hàm cả con người trong đó:" Cho nên Thánh- nhân hòa lẽ Thị- phi, và rốt cuộc ở trong Thiên- Quân".
Thiên Đại- Tông- Sư nói:" Như cái hình của người ta, thật là biến hóa muôn lần, mà chưa thấy đâu là cùng tận vậy". Lại cũng nói:" Giá như cánh tay trái tôi hóa làm con gà, thì tôi sẽ nhân đó mà gáy canh. Giá như lại hóa cánh tay phải tôi làm hòn đạn, tôi sẽ nhân đó mà kiếm chim quay; giá như lại hóa cái xương cùn của tôi làm bánh xe, lấy cái thân hồn tôi làm con ngựa, thì tôi sẽ nhân đó mà cưỡi lên, há còn phải đợi xe ngựa nào nữa!..." Lớn lao thay! Tạo hóa muốn anh làm vật gì bây giờ? Muốn đi đến đâu bây giờ? Hay là biến anh làm gan con chuột? Hay làm cánh trùng?" (…) " Nay có người thợ đúc vàng, vàng nhảy lên đòi: tôi muốn được làm thanh gươm mạc- da, người thợ đúc tất cho nó là vàng quái gở. Nay có kẻ ngẫu nhiên muốn được hình người, nhảy lên nói: Tôi muốn làm người… tạo hóa tất cho người ấy là người quái gở. Nay lấy Trời Đất làm lò lớn, Tạo- hóa làm người thợ đúc lớn, thời tha hồ muốn biến hóa ra sao thì biến hóa, đâu mà chẳng được."
Loài người biến hóa vô cùng, nhưng không có phương hướng nào nhất định cả: Phàm vật, hễ" cùng tắc phản" " chung tắc thủy" loay quay mãi theo" vòng tròn" vô tận.
Tuy Trang tử chủ trương" tự hóa" và" vạn hóa", không chủ trương sự biến hóa có phương hướng như thuyết" luân hồi" của Phật giáo tiểu- thừa hay thuyết" thiên trạch" của Darwin, nhưng lại nói đến sự biến hóa theo một cái" Cơ". Thiên Chí- Lạc nói:" Các giống đều có Cơ" và kết luận rằng:" Vạn vật đều ra nơi Cơ, và vào nơi Cơ. Theo Trang tử thì" Cơ" là cái nguồn gốc của sự biến đổi, và rút lại, quy kết vào hai chữ" đức tính".
Lấy theo thuyết Thiên- Quân mà xét việc đời thì thấy các sự vật đều chằng chịt dính líu với nhau, nhân rồi quả, quả rồi nhân tiếp tục nhau không biết đâu là khởi điểm, đâu là cùng tận, như trên một cái" vòng tròn".
Để chỉ sự phức tạp trong các mối quan hệ, thiên Sơn- Mộc nói:" Trang Châu đi chơi ở rừng Điêu- Lăng, thấy một con chim tước lạ ở phương Nam lại, cánh rộng bảy thước, mắt tròn một tấc, đụng ở trán Châu mà đậu ở bụi cây lật. Trang Châu nói: chim này là chim gì vậy? Cánh to mà không bay, mắt lớn mà không nhìn. bèn dùng dằng dừng bước, lấy đạn ra nhắm bắn. Bỗng thấy một con ve, vừa được bóng mát mà quên cả thân. Một con bọ ngựa, lấy lá che thân, chờm đến muốn bắt lấy mà quên cả thân. Còn phía sau, con tước đang vồ bắt nó mà quên cả thân mình…
Trang Châu giật mình: Ôi! Giống vật vốn làm lụy nhau… hai loài như gọi lẫn nhau.
Rồi bỏ viên đạn mà chạy trở về…"
Xem đó, tuy là một câu chuyện ngụ ngôn, nhưng mà ý vị sâu sắc miêu tả được những mối quan hệ trong vũ trụ phức tạp là chừng nào, thật là điều khó thể tư- nghị được.
Trang tử nói:" Bớt, thêm; đầy, vơi; một tối, một sáng" là muốn bảo luật Thiên- Quân bao- quát cả hai cõi tối, sáng ấy. Câu nói này của Liệt- tử:" một vật thể, khi đầy, khi vơi, khi thêm, khi bớt, khi sáng, khi tối đều có cảm thông với Trời, Đất, ứng với vật loại" có thể bao- quát và cai quản cả cái luật Thiên- Quân.
Theo luật Tiến- hóa, hay tử- trạch thì các giống vật càng biến, càng không bình đẳng. Còn theo luật Thiên- quân thì các giống vật càng biến lại càng theo về bình đẳng, dù cho hình chất không bình đẳng, địa vị không bình đẳng mà Tánh và Phận vẫn bình đẳng. (Xem Tiêu- Diêu- Du và Tề- Vật- Luận) .
Đó là sự phân biệt quan trọng nhất trong hai thuyết Tiến- hóa và Vạn- hóa.
***


Tóm lại, ta có thể lấy câu này của Trang tử Lão chỉ luật Thiên- Quân " trước sau như cái vòng ".

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Quốc Cường
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 1043
Reputation : 15
Join date : 27/07/2013
Đến từ : Tri Âm Quán/Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Tue Aug 20, 2013 1:08 pm

***
Với hai chữ " tự hóa", Trang tử không thừa nhận có một" Đấng tạo hóa " đứng ngoài và làm chúa tể Vũ Trụ Vạn Vật, mà lại cho rằng ngay ở mỗi vật, từ cực nhỏ tới cực lớn, đều có cái sức " tự sinh", "tự hóa" có thể được xem như một đấng" tiểu tạo hóa" hay" tiểu hóa công". Cho nên trong thiên Tề- Vởt- Luận mới nói:" Trời Đất cùng ta đồng sinh, vạn vật cùng ta đồng nhất". Vạn vật đồng nhất thế, đó là danh từ tổng quát để chỉ Vũ- trụ- quan của Trang tử.
Thuyết Vạn- hóa Thiên- quân của Trang tử, như trên đây đã nói có thể tượng trưng bằng một cái" vòng ốc" không thể lẫn lộn với thuyết Luân- Hồi của Nhà Phật (tiểu- thừa) .
Thuyết Luân- Hồi của Phật- giáo tiểu thừa, tựu trung là một hình thức của thuyết Tiến Hóa, cho nên người ta quan trọng về vấn đề quả trị cao thấp: một ảo vọng của Bản Ngã. Vì vậy, đứng về phương diện Giải thoát, thì thuyết Luân- Hồi phải thua xa thuyết Vịn- Hóa Bình- đẳng của Trang tử Nhân Thật vậy, con người sở dĩ nô lệ, là vì còn bị cái Sợ chi phối tinh thần. Sợ đủ thứ, nhưng cái đáng sợ nhất của con người là sợ chết, và cái cảnh sau khi chết. Thuyết Luân- Hồi của tiểu thừa Phật giáo an ủi được lòng thắc mắc băn khoăn ấy, và bảo đảm được rằng loài người sẽ tiến mãi: hết loài thú, đến loài người, rồi đến loài tiên, loài phật… Con người càng" tiến" chừng nào, thì lòng khao khát lên" cao" lại càng tăng và lòng" nô lệ", ngôi vị đẳng cấp sẽ càng nặng chừng ấy, nghĩa là lòng giải thoát cái Sợ sẽ không bao giờ giảm bớt và dứt được.
Trái lại, với thuyết Bình- đẳng của Trang tử, căn cứ vào thuyết Vạn- hóa Thiên- Quân cho rằng người là Đạo, người mà thực hiện được cái Đạo nơi mình rồi, thì nó sẽ" tự sinh", " Tự Hóa" như Trời Đất, nên" toàn mãn" mà không còn cái bụng đèo bòng tham muốn những gì khác ngoài cái Tánh- Phận của mình nữa:" Vạn vật dữ ngã đồng nhất". Miễn giữ gìn được Thiên- chân, ngoài ra cuộc đời hãy nên xử như Trang Châu hóa bướm". Trang Châu chiêm bao thấy mình là Bướm. Trong khi làm bướm, quên lửng mình là người, và vi thích với phận bướm. Nếu đứng theo Trang Châu mà luận, và thử hỏi Trang Châu có chịu đổi cái kiếp người của mình để làm phận con bướm, thì Trang Châu ắt không chịu. Nhưng, nếu đứng theo con bướm mà xem, và xin đem đổi cái kiếp con bướm làm phận con người như Trang Châu, ắt con bướm cũng không muốn. Làm người chưa ắt là vui hơn làm Vởt, và như thế Vởt và Ta là bình đẳng vậy." Giá cánh tay trái ta la con gà, thì ta nhân đó mà gáy canh…" Mình là Đạo, thì Đạo nơi ta hóa ra cái gì thì hóa, sao mà phải lo sợ? Ta có thể tự nói với mình:" Lớn lao thay! Tạo hóa nơi ta. Ngươi muốn ta đi đến đâu bây giờ? Hay là ngươi muốn biến ta làm gan con chuột, hay làm cánh trùng?" Với một nhân- sinh- quan như thế, thì làm gì còn nô lệ lấy những cái sợ hão huyền để mà tranh giành Cao Thấp, Lớn Nhỏ, Vinh Nhục…? Cho nên giải thoát tinh thần con người khỏi cái" sợ" thiên niên giam hãm đời mình trong dục vọng và bóng tối, quả thuyết Luân- hồi của Phật giáo tiểu thừa phải kém xa thuyết Thiên- Quân Vạn- Hóa của Trang tử nếu không nói rằng bất- lực.

***
D. Hạnh- Phúc Cá- Nhân và Xã- Hội:
Trang tử cho rằng" hết thảy vạn vật đều do Đạo mà ra, và mỗi vật đều có cái Đức của nó, nghĩa là, hết thảy vạn vật, mỗi vật đều có cái tánh tự nhiên của nó. Nếu biết thụân theo tánh tự nhiên mà sống, thì hạnh phúc có ngay trong lúc đó, không phải cầu cạnh đâu khác ở ngoài."
Được phát triển tự do bản tánh là điều kiện đầu tiên đưa ta đến hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương đối dĩ nhiên. Muốn đạt đến Hạnh phúc tuyệt đối phải cần đến một thứ tri thức siêu nhiên huyền diệu hơn, tức là cái mà Lão tử gọi" tri bất tri, thượng".
Thường thì sở dĩ bản tánh con người không được tự do phát triển là do sự ràng buộc, uốn nắn của chế độ, giáo dục, luân lý giả tạo của xã hội bên ngoài. Bởi vậy Trang học, cũng như Lão học hết sức phản đối nhân tạo mà đề cao cái sống cận với thiên nhiên.
ở thiên Thu- Thủy Trang tử nói:" Thiên tại nội, nhơn tại ngoại (…) Ngưu mã tứ túc thị vị Thiên; lạc mã thủ, xuyên ngưu tỉ thi vị Nhơn" (Trời ở bên trong, người ở bên ngoài (…) Bò ngựa bốn chân, đó là Trời, khớp đầu ngựa, xỏ mũi bò, đó là Người) ông lại nói:" Chớ lấy người mà giết Trời! Chớ lấy nhân tạo mà giết Thiên Mạng! Chớ lấy được mà chết theo danh! Giữ cẩn thận, đừng làm mất Thiên chân! đó là trở về cái Chân của mình!"
***
" Trở về cái Chân của mình!" (" phản kỳ chân") hay là" phục kỳ bổn" tức là đạo" Giải thoát: trở về Bản tánh như Nhà Phật khuyên ta" minh tâm, kiên tánh" vậy. Cho nên, không thể hiểu một cách quá giản lược và sai ngoa rằng thuyết" thuận Thiên, an Mạng" của ông là thái độ tiêu cực, nhu nhược, phó mặc cho số phận mà xã hội đã an bài cho ta, ra sao hay vậy. " trở về cái Chân của mình" phải là một cuộc đại- cách- mạng mới thoát khỏi gọng kềm xã hội càng ngày càng phủ lập và mai một Thiên- Chân. Cho nên Trang tử mới khuyên ta:" Chớ có lấy cái Ta xã hội, cái Ta nhân tạo do luân lý, giáo dục, chế độ cầu thành mà giết chết Thiên- tính!" (Vô dĩ nhơn diệt Thiên)
Vạn vật, vật nào cũng có cái tánh tự nhiên của nó, và nói về năng khiếu tự nhiên thì không vật nào là giống vật nào cả. Có điều là, nếu mỗi vật, vật nào cũng được phát triển tự do năng khiếu tự nhiên của mình thì vật ấy được ngay hạnh phúc.
Trong thiên Tiêu- Diêu- Du, Trang tử mượn cớ tạo ra một vật cực đại (là cá Côn, chim Bằng) và vật cực tiểu (con ve và con cưu) để chứng minh rằng năng khiếu tự nhiên của mỗi vật hoàn toàn khác nhau. Vật cực đại như chim Bằng, mỗi khi muốn đến biển Nam phải" đập trên mặt nước ba nghìn dặm dài, lên theo gió trốt chín muôn dặm cao, và bay trọn sáu tháng không nghỉ" (…) " Con chim cưu và con ve, thấy vậy, cười nói: Ta thích bay vụt lên cây du, cây phương… nếu có lúc bay không tới mà có rớt xuống đất thì cũng không sao. Sao lại phải lên chi tới chín muôn dặm cao, bay qua biển Nam mà làm gì?"

Nếu mỗi vật đều biết đủ với Tánh Trời của mình, thì tuy Đại Bàng, không xem mình là cao quý hơn chim nhỏ mà tự cao, mà chim nhỏ như chim cưu cũng không xem mình là thấp hèn mà đèo bòng ham muốn đến Ao Trời làm gì như chim Bằng! Lớn, nhỏ tuy khác nhau, nhưng mỗi vật nếu biết thuận theo cái tánh tự nhiên của mình, biết an theo cái phận của mình, thì đều được tiêu diêu (tự do) không sai cả.
Sự vật trên đời không giống nhau, nhưng cũng không nên cầu cho hết thảy đều giống với nhau. Là vì không thể nào cầu cho được. Sự bình đẳng tự nhiên không có và không bao giờ có trên đời này. Thiên Biền Mẫu có nói:" Cẳng vịt thì ngắn, cố mà nối dài, nó khổ. Dò hạc thì dài, cố mà làm cho ngắn, nó đau. Cho nên Tánh mà dài, không phải cái nên chặt bớt; tánh mà ngắn, không phải cái nên kéo dài, thì sao có đau khổ!"

***

_________________________________
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Thu Aug 22, 2013 4:52 pm

Đ. Quan niệm về Xã- hội và Chính- trị:
" Đừng mong kéo cẳng vịt cho dài, thu dò hạc ngắn lại" nhưng đó lại là công việc làm của các nhà xã hội chính trị" hữu vi" từ ngàn xưa vậy.
Mục tiêu chính của các nhà làm luật pháp, các luân lý gia, các chế độ chính trị… phải chăng đều có tham vọng san bằng mọi cá tính đặc biệt, bình đẳng hóa tất cả mọi bất bình đẳng tự nhiên trong thiên hạ… biến mỗi cá nhân thành một con người sống theo xã hội, theo chế độ," thích theo cái thích của mọi người mà không biết thích theo cái thích của mình" (7)
Theo Trang tử, Tánh (tự nhiên) của vạn vật, thì không đồng nhau: mỗi vật đều có chỗ nhận cho là đẹp, là hay, là phải, riêng của vật ấy. Cho nên không cần phải cưỡng ép cho tất cả đều đồng nhau, mà cũng không sao cưỡng ép cho đồng được. Chỗ không đồng của vạn vật, ta phải biết nhận lãnh nó, biết" chịu" nó, đó tức là dùng chỗ" không đồng" mà làm cho" đồng" vậy. Trái lại tất cả mọi chế độ chính trị, xã hội theo hữu vi đêù định ra" một cái tốt" để làm tiêu- chuẩn chung cho mọi tư tưởng hành vi, khiến người người đều phải theo nó mà hành động. đó là ép những chỗ không đồng phải đồng nhau. Yêu, mà yêu theo chỗ thích riêng của mình, là làm đau khổ cho vật mình yêu vậy. Cho nên các bậc thánh nhân lập ra " quy củ chuẩn thẳng" cùng các thứ quy tắc chế độ để định chế chánh trị xã hội, khiến cho người người trong thiên hạ đều phải phục tùng theo, chỗ dụng tâm, tuy chưa phải là không có lý do chánh đáng và tốt đẹp, và chỗ dụng ý tuy không phải là không thực yêu người… nhưng, kết quả thì lại như Lỗ- Hầu nuôi chim…
" Xưa kia, có con chim biển đậu ở cửa thành nước Lỗ… Lỗ hầu ngự ra ra nghinh tiếp, rước về chuốc rượu ở đền Thái- miếu, cho tấu nhạc Cửu thiều cho nó vui, giết trâu bò mời nó ăn… Chim ấy ngó dớn dác, bộ sầu bi không dám ăn, dám uống. Cách ba hôm thì chết. đó là dùng cách nuôi người mà nuôi chim. Nếu như muốn dùng cách nuôi chim mà nuôi chim, thì phải để cho nó đậu ở rừng sâu, dạo ngoài gò đất, trôi nổi sông hồ, kiếm ăn lươn cá, đỗ theo hàng liệt, ung dung tự đắc, thích đâu ở đó. Cứ nghe người nói là nó không ưa rồi, lựa là còn đem tiếng nhạc mà làm cho nó kinh tâm. Nếu đem nhạc Hàm trì, Cửu thiều mà đánh lên ở Động- đình, thì chim nghe phải bay, thú nghe phải chạy, cá nghe phải lặn… nhưng người ta thì lại kéo nhau đến đó mà nghe. Cá ở dưới nước thì sống, người ở dưới nước thì chết. Đó và đây đã khác nhau, thì sự ưa ghét cũng khác nhau. Bởi vậy, bậc thánh ngày xưa không giống nhau về sở năng, nên không giống nhau về sự nghiệp". (Chí- Lạc)
Như vậy, ta thấy rằng không phải Lỗ Hầu không có thiện ý, nhưng kết quả thì lại khác hẳn với ý muốn của mình: hại mà không có lợi. đó cũng là hậu quả của những kẻ muốn dùng luật pháp, luân lý để mà điền chế tư tưởng hành vi của thiên hạ.
Bởi thế, Trang học cực lực phản đối cái cách " lấy trị mà trị thiên hạ" (dĩ trị, trị thiên hạ) . Muốn khiến cho thiên hạ được trị, không chi bằng" lấy sự không trị, mà trị thiên hạ" (dĩ bất trị, trị thiên hạ) . Thiên Tại- Hựu nói:" Ta nghe phòng và giữ thiên hạ, chứ không nghe chuyện trị thiên hạ. Phòng, là sợ thiên hạ đắm đuối mà mất tánh; giữ là sợ thiên hạ dời đổi mà mất đức. Thiên hạ mà không đắm đuối đến mất TánThiên, không dời đổi đến mất Đức, thì sao lại có chuyện trị thiên hạ?" Dù sao đi nữa, bất đắc dĩ mà phải dùng đến luật pháp, luân lý, chính trị, chế độ… thì luật pháp, luân- lý, chính trị, chế độ cũng phải có mục đích duy nhất nầy là phụng sự cho cá nhân, chứ không được đem" Người mà giết Trời, đem nhân tạo mà giết thiên nhiên…"
Lão tử và Trang tử đều chủ trương" Vô vi nhi trị", một chế độ không có chế độ, một chánh thế không có chánh thế, nhưng mỗi người theo những lý do riêng.
Lão tử thì nhấn mạnh về Đạo, và vấn đề phản- phục:" Phản giả Đạo chi động". Còn Trang tử thì nhấn mạnh về sự phân biệt giữa thiên nhiên và nhân tạo:" người không được giết Trời, nhân tạo không được lấn thiên nhiên", vì làm thế là làm cho nhân dân thống khổ: không phát triển được tự do Bản tánh của mình.

***
E. Vấn đề Hạnh- Phúc tương đối và tuyệt đối:
Cái hạnh phúc nói trên đây, chỉ là một thứ hạnh phúc tương đối, vì nó còn phải có điều kiện, nghĩa là còn phải tùy thuộc vào cái gì. Thật vậy, người ta sở dĩ có được hạnh phúc là khi nào được tự do sống theo bản tánh của mình.
Như vậy, xã hội, chế độ… như đã nói trên, chỉ là một trong những điều kiện không thuận tiện cho sự phát triển tự do bản tánh con người trên con đường hạnh phúc.
Cũng có nhiều trở ngại khác không kém quan trọng khiến cho ta khó thực hiện được hạnh phúc, là vấn đề" lão", "bệnh", và "tử". Như vậy, ta thấy rằng Phật giáo không phải là không có lý, khi họ đề xướng thuyết" sanh, lão, bệnh, tử: khổ" người tự do không những không bị ràng buộc về pháp luật, luân lý, chế độ, xã hội bên ngoài, mà cũng là người không còn sợ già, sợ bệnh, sợ chết nữa.
Già không đáng sợ. đáng sợ là nên sợ cái già mà đầy bệnh tật. Vì vậy, người ta muốn được hạnh phúc, cũng phải biết lo đến phép dưỡng sinh. Người mạnh khỏe không sợ già, cũng không sợ chết nữa. Trong mọi tai họa, tai họa đáng sợ nhất của con người là tật- bệnh. Người hay đau yếu, bệnh tật là người dễ sa vào ích kỷ: thường săn sóc săm soi đến thân thể nên dễ đem lòng quyến luyến và yêu thương. Lão tử cũng đã có nói:" Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn!" (Chương 13 Đạo- Đức- Kinh) . Cho nên, dưỡng sinh là thuật làm cho mình luôn luôn mạnh khỏe, để mà không có cơ hội thiết tha nghĩ đến thân thể của mình.
Người xưa có nói:" Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, đó là chân hạnh phúc của con người. Có được một thân thể không đau, thì tinh thần mới không loạn; nhưng thường khi, nhờ có một tinh thần không loạn, mới có được một thân thể không đau. đó là hai điều không thể rời nhau: ảnh hưởng của vật chất đối với tinh thần và ảnh hưởng của tinh thần đối với vật chất. Nhưng bàn về phần cao nhất của phép dưỡng sinh thì người Đông phương coi trọng phần ảnh hưởng của tinh thần hơn.
"Điềm đạm hư vô,
Chân khí tùng chi,
Tinh thần nội thủ,
Bệnh an tùng lai."
(Hoàng- Đế Nội- Kinh)
(Chương Đạo- Sinh)

Thượng- Cổ Thiên- chân luận
***

Ở thiên Dưỡng- sinh- Chủ, Trang tử nói:" Ngô sinh đã hữu nhai, nhi tri đã vô nhai. Dĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ!" (Sinh lực của ta thì có hạn, mà nỗi lo nghĩ ưu lự thì vô hạn, là nguy vậy!) . Vì vậy mà phép dưỡng sinh chiếm địa vị khá quan trọng trong học thuyết Trang tử và về sau phái Đạo gia lại khai thác nó lập ra thành một học phái đặc biệt là phái" trường sinh cửu thị".

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 23, 2013 2:43 pm

Nhưng, mối băn khoăn lo sợ nhất làm cho con người thương- sinh (Cool và đã biến con người thành con vật đau khổ nhất đời là lòng ham sống sợ chết (tham sinh úy tử) .
Ta hãy nhìn kỹ chung quanh, xem sự bành trướng mạnh mẽ của tôn giáo thì đủ rõ vấn đề sinh tử là quan trọng đến bực nào! Người hoàn toàn tự do là người thoát khỏi cái tâm trạng" tham sinh úy tử", người biết nhìn thấy sinh tử là Một. Sự băn khoăn lo sợ sự sống chết sẽ giảm được hoặc dứt đi nếu ta hiểu rõ được cái lý của sống chết. đó là cái phép" lấy Lý mà hóa Tình" của Trang tử.


***
Thiên Dưỡng- sinh- chủ nói:" Lão Đam chết. Tần Thất đến điếu, khóc ba tiếng, rồi đi ra. đệ tử hỏi:" Ông không phải là bạn của phu tử hay sao?
Phải.
Vậy thì, điếu như thế là phải hay sao?
Phải. Trước kia ta xem Lão Đam là bạn ta. Nay xem lại đó, thì không phải nữa. Lúc ta vào điếu, thấy có già khóc đó như cha khóc con; trẻ khóc đó như con khóc mẹ. đó là tròn thiên tánh, già thêm tình và quên chỗ mình thọ lãnh của tạo hóa. Cổ nhơn gọi đó là hình- khổ của sự trốn thiên tánh. Phụ tử vui mà đến, là thời; vui mà đi, là thuận. An thời xử thuận thì buồn vui làm sao vào đặng cõi lòng. Cổ nhơn gọi đó là" huyền giải".
Trong Trời Đất, chỉ có một cái" Sống", cái" Sống" không sinh không tử. Sống Chết chỉ là cái hình thức của một cuộc biến hóa của cơ Đại Hóa của Trời Đất. Cái" Sống" ấy chính là cái mà Lão tử gọi"tử nhi bất vong giả thọ" (chết mà không mất) .
Hình thức này mà có mất đi, thì cái" Sống" ấy lại đi về một chỗ khác. Cũng như trong một thân cây, lá này rụng, thì cái sống trong lá cây" trở về" trong thân cây mà sanh ra lá khác, cùng hoa trái khác…cái mà ta gọi là sống chết đây, chỉ là một sự " thành, hủy" của một trạng thái trong vạn hóa của Trời Đất Vạn vật mà thôi. Trang tử đã ví sự sống chết như một bó củi" cột lại" và " mở ra". Sinh là Huyền, tử là Giải. Huyền là cột lại, Giải là tháo ra.
Sống chết chẳng qua là" một đi một lại" nối tiếp nhau, còn cái Sống, tức là Chân- thế của ta, thì luôn luôn như thế mãi, không thay đổi.
Cái Sống của Chân thế, đối với hình thể của ta, ví như" lửa" mà đối với" củi": từ hình thể này truyền qua hình thể kia như" lửa" truyền từ bó củi này sang bó củi kia:" không khác nào hỏa cứ truyền mãi mà không tắt, cái sống truyền mãi mà không bao giờ tuyệt".
Chết, là từ một cảnh nầy, đổi qua một cảnh khác… Từ cảnh nầy đổi qua cảnh khác mà lo sợ, thì là một việc lo sợ hão như cảnh nàng Lệ Cơ…" Nàng Lệ Cơ, con một vị quan trấn thủ phong cương xứ Ngoại, gả về cho Vua nước Tần. Lúc xuất giá, rơi lụy dầm bâu. Khi tới hoàng cung, cùng Vua đồng sàng, nếm mùi sô- hoạn, rồi nàng lại hối hận giọt lệ ngày xưa" (Tề- Vật- Luận) .
Chết mà lo sợ thì có khác nào ta sợ trước cái cảnh mà mình chưa biết. biết đâu rằng, sau nầy ta lại giống như nàng Lệ Cơ, sau khi đến hoàng cung bấy giờ lại hối hận giọt lệ ngày xưa mà không chịu trở về quê cũ. Nếu ta cho hình thức hiện có đây là đáng vui, thì sau khi chết, chỗ ta đặng hình thức mới khác, sao lại biết là không có chỗ đáng vui như bây giờ? nghĩ lại lúc mà ta chưa là người như ngày nay, có lẽ lúc lìa cảnh đó để sang qua cảnh đây, biết đâu ta cũng đã" rơi lụy đầm bâu", quyến luyến dùng dằng, và cho sự thay đổi hoàn cảnh là một tai họa. Và hiện nay, nghĩ lại cái" giọt lệ ngày trước" ta cũng sẽ lấy làm hối hận." Trong muôn vàn hình thức của vạn vật, hình thức của người là một. Gặp được hình thức ấy, chưa đủ riêng vui với nó, bởi trong vô cực, chỗ" gặp mới" của vạn vật thì vô cùng… Một chỗ" gặp mới" như đây mà còn biết vui, há chỉ có một chỗ này mà thôi sao?" Lời chú đây của Quách Tượng thật rõ ràng hết sức.
Hình thức con người là một trong muôn vàn hình thức của vạn vật. Như vậy, gặp hình thức nào cũng đáng vui mừng cả, há chỉ có hình thức con người đáng vui mừng mà thôi sao? " Giá như cánh tay trái ta biến thánh con gà thì ta nhân đó mà gáy canh. Giá như cánh tay mặt ta hóa làm hòn đạn thì ta nhân đó mà kiếm chim quay. Giá như hóa cái xương cùng của ta làm bánh xe, hóa thần hồn ta làm con ngựa thì ta nhân đó mà cưỡi, há còn đợi xe ngựa nào nữa? Vả" đắc" là thời," thất" là thuận. An thời xử thuận thì buồn vui làm sao vào đặng cõi lòng!" Vì vậy, bậc chân- nhân xưa" không ham sống, không ghét chết, ra không vui, vào không sợ, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi. (Đại- Tông- Sư) .
"Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là bướm, vui phận làm bướm: tự nhiên thích chí không còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu. Không biết Châu lúc chiêm bao là bướm, hay bướm lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt có phận định" (Tề- Vật- Luận) .
Bàn về vấn đề sinh tử mà lại dùng đến Thực và Mộng như chuyện Trang Châu mộng hồ- điệp mà nói, thì thâm trầm sâu sắc không biết chừng nào! Thật là văn chương huyễn- tướng lạ thường.

***

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 23, 2013 2:53 pm

PHÁT MINH CỦA VỢ LỖ BAN
Sau khi phát minh ra cái cưa, Lỗ Ban lại phát minh ra cái bào. So với khi trước chỉ
dùng dao và rìu để làm các công việc về mộc, cái cưa và cái bào đã giúp mọi người bớt được sức lực bỏ ra, lại nâng cao được chất lượng. Lỗ Ban rất vui mừng, tự hào về sự phát minh của mình.
Thế nhưng, khi Lỗ Ban bào gỗ, miếng gỗ luôn bị di động, rất không thuận tiện, ông nên phải nhờ vợ là Vân Thị đứng đối mặt, giữ lấy đầu miếng gỗ. Thường xuyên Vân Thị bị miếng gỗ húc vào người đau điếng, bàn tay toàn là những vết thâm tím.
Vân Thị bảo Lỗ Ban:
“Mình đã phát minh ra cái bào để bào gỗ, sao không nghĩ cách nào để khi bào gỗ
không cần có một người giữ đầu mảnh gỗ?”
Lỗ Ban lắc đầu nói:
"Tôi làm được ra cái bào đã khá vất vả rồi, mình còn bảo phải làm gì nữa đây?''
Vân Thị quyết định tự mình nghĩ ra cách.
Từ đó, ngày nào Vân Thị cũng nghĩ đến việc mình sẽ phải làm, ăn không thấy ngon,
uống trà thấy trà vô vị. Bỗng, một hôm, nàng ở nhà ngoài, đang cúi đầu suy nghĩ, quay đi quay lại. Trong nhà, Lỗ Ban gọi nàng ra giữ gỗ. Tiếng gọi của Lỗ Ban to quá làm nàng giật mình chạy vào, phân bị vướng một cái gì đó khiến nàng loạng choạng suýt ngã. Nàng quay lại, nhìn kỹ. Thì ra trẻ con tinh nghịch, cắm ở ngoài sân một mảnh gỗ. Nàng định nổi nóng. Nhưng lại tự nói với mình: Miếng gỗ cắm ở ngoài sân có thể cản, vướng người... Nếu vậy, ta sẽ đóng miếng, gỗ đó lên ghế để giữ tấm gỗ đang bào?
Nàng vội hớt hải chạy vào nhà trong, nói ý nghĩ đó với chuồng. Lỗ Ban cho là có lý liền làm theo, quả nhiên rất có hiệu quả Lỗ Ban cảm khái nói:
Trên thế giới, sự phát minh, sáng tạo không bao giờ có giới hạn, chúng ta không bao
giờ nên tự mãn.
Sau này, các bác thợ mộc gọi miếng gỗ chặn do Vân Thị phát minh ra gọi là miếng

''Ban thê'' để kỷ niệm.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 23, 2013 2:59 pm

CAO KIẾN CỦA VỢ LỖ BAN
Một lần, Lỗ Ban dẫn phường thợ đi nhận xây dưng một sảnh đường nguy nga cho một nhà giàu lại có quyền thế.
Dưới sự chỉ đạo bằng miệng và bằng các hình vẽ của Lỗ Ban, người nào việc nấy, hợp đồng và phân công rất rõ ràng, công thành tiến triển nhanh chóng. Sắp đến lúc dựng cột, lợp mái thì Lỗ Ban kêu lớn: ''Hỏng rồi...''
Phường thợ ngơ ngác, nhao nhao lên hỏi:
Sư phụ? Chuyện gì ạ?
Lỗ Ban luôn nói: ''Xin lỗi... xin lỗi''. Ông chỉ vào đống cột gỗ long não quý giá chất ngoài sân và bảo:
Ta nhất thời sơ ý mà làm chữ cột đỉnh của sảnh bị ngắn một đoạn, làm thế nào đây?
Nghe nói, người nào người nấy tái mặt: Cột cái bằng gỗ long não rất đắt tiền, có mà
bại sản khuynh gia cũng không đền nổi: Mà dù có đền được thì sẽ kéo dài thời gian hoàn thành sảnh đường. Mặt khác chủ nhân đang mong ngày hoàn thành sảnh mới để cử hành lễ thượng thọ, chiêu đãi các đại quan triều đình và các quý nhân. Làm lỡ dịp này không phải chuyện chơi, không chừng Lỗ Ban sẽ phải lên hầu toà mất…
Lỗ Ban lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên. Vợ ông thấy vậy liền hỏi nguyên do rồi khẽ gí tay lên trán chồng một cái, cười nói: Thế mà chàng cũng đòi là người thợ cả? Ngay một vấn đề đơn giản vậy mà cũng không giải quyết được!
Nàng lại nguýt chàng, tươi cười:
Mình bảo thân mình em có cao không?
Không cao! Không cao! Chỉ đến vai ta.., - Lỗ Ban đáp.
Vợ Lỗ Ban lại hỏi:
- Thế sao bây giờ em lại đứng xấp xỉ với mình?
Lỗ Ban ngạc nhiên:
-Ừ ở đế giày nàng đệm thêm một miếng gỗ nữa mà. Trên đầu lại có trâm ngọc, cành
hoa... à ra rồi... có cách rồi... Ta có cách rồi!
Theo lời gợi ý của vợ mỗi.. một chân cột, Lỗ Ban cho đặt lên một phiến đá trắng tròn,
trên đỉnh chiếc cột đứng được chạm trổ hoa lá, chim muông ở phía trên. Như vậy là giải quyết được một vấn đề nan giải .

Cuối cùng sảnh đường trang nghiêm, hoa lệ được xây dựng đúng kỳ hạn.

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 23, 2013 3:05 pm

HẠNG THÁC ĐẤU TRÍ VỚI KHỔNG TỬ
Khổng Tử ngồi trên cỗ xe ngựa đi chu du nhiều nước. Đến một nơi, thấy một đứa trẻ đắp đất quây lại thành một toà “thành” và ngồi vào bên trong. Khổng Tử hỏi:
- Cháu thấy xe ngựa, sao không tránh đường?
Cậu bé chớp chớp mắt đáp:
Chúng cháu nghe nói Không Tử tiên sinh, trên hiểu thiên văn, dưới tường địa lý, giữa thông hiểu nhân tình. Thế mà hôm nay cháu thấy ngài không lấy gì làm ghê gớm. Từ cổ chí kim, người ta chỉ nói rằng xe phải tránh thành, mà có ai nói rằng thành phải tránh xe đâu.
Khổng Tử ngạc nhiên một lát, hỏi:
Cháu tên là gì?
Cậu bé đáp:
Cháu là Hạng Thác.
Để chữa lại thể diện, Khổng Tử nghĩ ra một loạt câu hỏi làm khó cho Hạng Thác. Ông hỏi:
- Mồm mép cậu bé khá lợi hại. Ta hỏi cậu: Núi nào không có đá? Nước nào không có cá? Cửa nào không có then? Xe nào không có bánh? Trâu nào không sinh ra nghé? Ngựa nào không sinh ra ngựa con? Dao nào không có chuôi? Lửa nào không có khói? Đàn ông nào không có vợ? Đàn bà nào không có chồng. Ngày nào rất ngắn? Ngày nào rất dài? Cây nào không có cành? Thành trì nào không có các quan viên? Người nào không có biệt danh? Hỏi xong, Khổng Tử nhìn cậu bé và mỉm cười. Hạng Thác nghĩ một lúc rồi đáp:
- Xin ông nghe cho - Núi đất không có đá, nước giếng không có cá, cửa nâng lên hạ
xuống không có then, xe kiệu dùng người khiêng không có bánh, trâu đất không sinh nghé, ngựa gỗ không sinh ngựa con, dao đẵn không có chuôi, lửa của con đom đóm không có khói, thần tiên không có vợ, tiên nữ không có chồng, ngày mùa đông ngắn, ngày mùa hè dài, cây khô không có cành, thành trống chẳng có quan viên, đứa trẻ nhỏ không có biệt danh.
 
Khổng Tử kinh ngạc, Trí tuệ của cậu bé này quả là hơn người. Lúc này Hạng Thác
không để Khổng Tử suy nghĩ lâu nói:
Bây giờ cháu xin hỏi ông:
Tại sao ngan và vịt có thể nổi lên trên mặt nước? Tại sao hồng nhạn và tiên hạc lại hót hay? Tại sao tùng bách lại xanh trong mùa đông, hạ?
Khổng Tử đáp:
Ngan và vịt có thể nổi trên mặt nước vì bàn chân của chúng có hình vuông; hồng nhạn và tiên hạc hót hay vì chúng có cái cổ dài; tùng bách xanh về mùa đông và mùa hạ vì ruột của chúng rắn chắc.
Không đúng Hạng Thác nói lớn.
- Con ba ba nổi trên mặt nước, chẳng lẽ chân nó cũng có hình vuông. Con ếch kêu
tiếng to, chẳng lẽ vì nó có cái cổ dài?... Loại hồ trúc xanh tươi về mùa hạ và mùa đông chẳng lẽ cũng vì bên trong của nó cũng rắn chắc?...
Khổng Tử thấy hiểu biết của cậu bé uyên bác đến mình cũng không biện luận nổi với cậu ta. Ông liền chắp hai thay nhắc đi nhắc lại.
- Hậu sinh khá uý... Hậu sinh khả uý...

Rồi đánh xe vòng qua đi…

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 23, 2013 3:13 pm

TỬ CỐNG HÙNG BIỆN VỀ KHỔNG TỬ
Một hôm, đại phu của nước Lỗ là Tôn Vũ Thúc nói chuyện với các vị quan trong triều rằng:
- Mọi người đều cho rằng Khổng Phu Tử thật giỏi. Tôi thấy Tử Cống còn giỏi hơn thày ông ấv.
Tử Phục Cảnh Bá nghe được những lời này nói lại cho Tử Cống biết. Tử Cống không ngạc nhiên, cười, nói:
Lời nói đó không đúng. Làm sao tôi theo kịp được thầy dạy của tôi? Lấy bức tường
vây quanh nhà ở ra làm thí dụ nhé. Tường vây của nhà tôn chỉ cao đến ngang vai mọi người. Ai cũng có thể thấy trong nhà đẹp đẽ. Còn bức tường vây quanh nhà của thầy tôi cao đến vài trượng m91 người lại không tìm thấy cửa chính mà vào. Do đó, không nhìn thấy bên trong có tông miếu tráng lệ sự phong phú đa dạng của phòng ốc nhà thày. Người tìm được đến cửa chính mà vào không nhiều. Do vậy, tiên sinh Tôn Vũ Thúc nói như vậy cũng là tuỳ tiện sao?
Tử Phục Cảnh Bá thấy sự so sánh cua Tử Cống vừa mới mẻ lại vừa xác đáng.
Về sau, Tử Cống nghe thấy đại phu Thúc Tôn Vũ Thúc phỉ báng ngay cả thày dạy của mình là Khổng Tử nên rất giận, tìm đến Thúc Tôn Vũ Thúc mà bảo;
- Tiên sinh không nên làm thế. Không thể nào phỉ báng được thầy Trọng Ni đâu. Hiền tài và khả năng của người khác chì như ngọn đồi nhỏ, có thể vượt qua được. Còn lão sư Trọng Ni thì ví như mặt trời và mặt trăng, không có cách nào vượt qua được. Có người muốn tự tuyệt với mặt trời và mặt trăng thì cái đó chẳng tổn hại gì đến mặt trăng và mặt trời? Chỉ chứng tỏ người đó rất không biết tự lượng sức mình mà thôi!
Lại một lần, có người nói với Tử Cống:
- Ông đối với Trọng Ni cung kính như vậy, chẳng lẽ Trọng Ni giỏi hơn ông sao?
Tử Cống bảo:
- Người quân tử nói một câu biểu thị mình là người thông minh. Mà cũng nói một câu biểu thị mình là người không thông minh. Do đó, không thể không cẩn trọng trong khi nói. Tôi không thể đuổi theo được thầy dạy tôi cũng như lên trời không thể bò lên từng nấc thang vậy.

Nếu thày tôi là vua một nước hoặc được phong thái ấp trở nên khanh, đại phu, ngài muốn bách tính dẫm chắc chân trong xã hội, bách tính đều tư nhiên dẫm chắc chân. Nếu ngài dẫn đường cho bách tính tiến lên, bách tính sẽ tiến theo. Nếu ngài làm cho yên lòng và giúp đỡ bách tính, mọi người sẽ đến với ngài. Nếu động viên bách tính thì họ tự nhiên đồng tâm hiệp lực lại. Ngài sống trong quang vinh, chết được bách tính thương tiếc, người khác không thể đuổi theo ngài được...

_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 293
Reputation : 1
Join date : 27/07/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Sat Aug 24, 2013 11:23 am

Theo Trang tử, muốn trấn tĩnh lòng cảm xúc của con người trước vấn đề sinh tử, cũng như đối với tất cả mọi xúc cảm khác dễ làm cho ta thương sinh, thì phải dùng đến phép" lấy Lý mà hóa Tình". Người trí thức, biết rõ được chân tướng của Vũ Trụ, biết được chỗ phát sinh của sự vật là việc tất nhiên… thì khi gặp việc sẽ không động cảm mà giữ được vẻ thản nhiên trầm tĩnh bên ngoài cũng như bên trong. Không động cảm, là không bị trói buộc, nghĩa là được tự do và hạnh phúc vậy. Tỉ như gió thổi ngói bay, rớt nhằm một đứa trẻ hoặc một kẻ lớn. Đứa trẻ nóng giận, nguyền rủa và quy tội cho miếng ngói vô tình; còn kẻ lớn, trái lại, biết là không lỗi nơi đâu cả, cho nên không động cảm, không bực tức và nhờ đó mà chỗ đau cũng bớt đau. Là vì, tri thức của người lớn biết rõ cái lý do của miếng ngói rớt, nên" lấy Lý mà hóa Tình"," buồn vui vì đó mà không vào đặng cõi lòng!"
Trở lên là bàn đến hạnh phúc tương đối.

***
Còn muốn bàn đến hạnh- phúc tuyệt đối, thì phải bàn đến Tự- Do tuyệt đối.
Muốn đi đến hạnh phúc tuyệt đối, tức là Tự Do tuyệt đối, thì cần phải dùng đến một thứ tri thức siêu đẳng để mà đạt đến chỗ Huyền- đồng cùng vạn vật.
Thiên Tiêu- Diêu- Du, sau khi bàn về hạnh phúc tiêu diêu của chim Bằng, cũng như của chim cưu, có nói đến Liệt- tử cỡi gió mà đi…" Liệt- tử cỡi gió mà đi, đi một cách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và người như ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi phải đi, nhưng còn phải chờ…" Chờ cái gì? Gió.
Như vậy, thì cái hạnh phúc của Liệt- tử cũng chưa được gọi là tuyệt đối, là vì còn phải tùy một điều kiện khác ở ngoài.
Chỉ có những ai" thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục- khí mà rong chơi trong cõi vô cùng; thì đó đâu còn phải đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng: bậc chí nhân không thấy có mình, bậc thần nhân không nhớ đến công trạng của mình, bậc thánh nhân không nghĩ đến tên tuổi của mình." (Tiêu- Diêu- Du)
Trang tử, trên đây, tả hạng người hoàn toàn giải thoát, tức là người đã đạt đến hạnh phúc tuyệt đối, bậc chí nhân đã huyền- đồng cùng tạo vật, nên không còn thấy mình nữa. Họ là người đã vượt lên trên những cặp mâu thuẫn mà thế nhân thường nhận thấy: phải quấy, vinh nhục, trước sau, cao thấp tử, lớn nhỏ, sanh tử… Họ là người đã giải quyết được sự mâu thuẫn to tát nhất nơi họ: tình và lý, tâm và trí, nội và ngoại, nhĩ ngã. Không còn thấy có" nhĩ", tức là không còn thấy có" ngã", họ là người đã đạt đến trạng thái" vô- ngã". " Vô ngã", nên cũng" vô- công" và " vô danh".

Đã là" vô- kỷ", " vô công"," vô danh" nên họ đã là Một với Đạo." Đạo thì không làm mà không có gì là không làm". Và nhân đó mà hành động của họ không còn gọi là hành động của tư tâm tư dục nữa, mà là hành động của Đạo, của Chân- thế, của Vô- Ngã. Hành động ấy là hành động" Vô- vi" của Đạo nơi ta vậy.


_________________________________
Tri Âm Quán
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Mon Aug 26, 2013 12:34 pm

Để đi đến sự Huyền- Đồng, bậc Chân- nhân phải" biết quên thị phi" (tri vong thị phi) .
Theo nghĩa thông thường của thế nhân thì" biết" là " biết" bằng sự phân biệt. Phải dứt bỏ lối nhận thức ấy để đi đến một thứ nhận thức siêu- đẳng khác mà các nhà Đạo- học gọi là" tri bất tri, thượng" (9) .
Phùng hữu Lan gọi đó là" kinh nghiệm thuần túy" tức là kinh nghiệm của Vô Tri Thức, và cũng là chỗ mà nhà Phật gọi là Hiện- lượng, Thiên- định, Thiển- tọa, và về sau phái Thần- tiên của Đạo- giáo gọi là Tĩnh- tọa. Thuần túy kinh nghiệm, là sự thực nghiệm Đạo ở bản thân, trong đó không còn cần đến suy lụân, đối đãi… mà nhận thức trực tiếp Thực tại không chủ khách, không nội ngoại vì những cặp đối đãi ấy đã đồng nhất, và đã biến mất trong tâm mình rồi.
***
Thiên Đại- Tông- Sư có đoạn văn này:
" Nhan Hồi nói: Hồi được thêm!
Trọng- Ni hỏi: Là nghĩa gì?
Nhan Hồi nói: Tôi quên Nhân Nghĩa.
Trọng Ni nói: Được, nhưng mà chưa trọn.
Một hôm khác, lại ra mắt và nói:
Hồi được thêm.
Là nghĩa gì thế?
Hồi quân Lễ Nhạc.
Được, nhưng chưa trọn.
Một hôm khác nữa, lại ra mắt mà rằng:
Hồi được thêm.
Là nghĩa gì?
Hồi" ngồi mà quên" rồi.
Trọng Ni ngạc nhiên hỏi:
Ngồi mà quên, là thế làm sao?
Nhan Hồi nói: Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí, đồng với Đạo lớn. đó gọi là" ngồi mà quên" (tọa vong) .
Trọng Ni nói:" Đồng, thì không còn tham muốn nữa; hóa, thì không thường nữa. Quả Hồi là người hiền. Khưu nầy nguyện theo sau đó."
***
Chương đầu thiên Tề- Vật- Luận cũng có nói:
" Quách Tử- Kỳ ngồi dựa ghế, ngửa mặt hà hơi, bơ phờ như người mất bạn.
Nhan- Thành Tử- Du đứng hầu trước mặt, thấy vậy, hỏi:" Sao mà hình hài có thể khiến được như cây khô, còn lòng thì có thể khiến được như tro lạnh. Nay người ngồi trên ghế có phải là người ngồi trên ghế trước đây nữa không?
Tử- Kỳ nói:" Yển, câu hỏi của ngươi đâu phải là không đúng! Ta nay đã mất bản ngã rồi, ngươi có biết không?..."
Đây cũng là phép" tọa vong" để mà thực hiện sự huyền đồng với bản thể của Đạo và đó cũng là cứu cánh của Trang học: hễ" đồng" với cái Sống chung của Vũ Trụ vạn vật thì sẽ không còn thương ghét riêng tư, sẽ không còn tham muốn đèo bòng những Tánh Phận ngoài mình nữa. Cho nên mới nói rằng" đồng tắc vô hiếu dã" (10)
Đạo học, theo Trang tử, không phải chỉ là một lối triết lý suông của lý trí, mà là một cuộc thực hiện hay thực nghiệm bản thân về Chân- Lý. Lời nói của Nhan- Hồi trong câu chuyện" tọa vong" trên đây có nghĩa là Hồi đã được cái Đạo bên trong bằng phép" truất- phế thông minh" và" bỏ lý trí". Nên để ý phân biệt điều này: bỏ sự hiểu biết không phải là khuyên ta đừng hiểu biết. Có hai trình độ hiểu biết: biết cái biết thông thường, cái biết của giới nhị nguyên, cái biết trong vòng tương đối của thị phi, thiện ác và biết về cái lẽ" bất khả tri", biết về bản thể, tức là cái biết về Tuyệt đối. Cái biết thông thường của lý trí, của giới nhị nguyên về thị phi, thiện ác đâu phải là không cần, trong khi ta vẫn còn hoạt động trong vòng" sắc tướng", nhưng, khi muốn nắm được Đạo, ta cần phải vượt lên khỏi nó. Trang tử gọi cái phép" vượt lên" ấy bằng một chữ" Vong", nghĩa là " Quên". ông nói:" Trí vong thị phi, tâm chi thích dã". Người được Đạo, không phải là người không biết thị phi, mà là người đã vượt lên trên cả thị phi. Không biết thị phi, với vượt lên thị phi là hai điều khác nhau xa. Cái" không biết" (bất tri) của đứa hài nhi, với cái" không biết" của bậc đạt Đạo cũng khác nhau rất xa vậy. Cái" không biết" ấy, mà Lão tử gọi là" Xích tử chi tâm" đừng có hiểu lầm đó là tâm trạng hỗn độn của đứa trẻ sơ sinh. Cho nên không nên hiểu cho đó là cái học" ngu dân".
Bởi không nhận thấy rõ ràng sự phân biệt đó mà phần đông học giả chuyên về Trang học mới đề xướng thuyết" phục cổ" như ở Thiên Đạo Chích trong sách Trang tử (Xem Trang tử tinh- hoa) .
Cái tri thức thông thường về sắc giới không làm sao hiểu được chân lý tuyệt đối, vì vậy Trang tử đề xướng sự" khử- tri" và" phế bỏ thông minh".
Ở thiên Thiên Địa có đoạn:" Hoàng đế đi chơi đến phía Bắc Xích Thủy, lên gò Côn- lôn, trông về hướng Nam tìm đường trở về, thì bỏ rơi ngọc Huyền- châu. Sai Trí đi tìm, nhưng không tìm ra. Sai Ly- Châu (rất tinh con mắt) đi tìm, nhưng cũng không tìm ra. Sai Khiết- Cờu (người có tài hùng biện) đi tìm, nhưng cũng tìm không ra. Bèn sai Tượng- Võng. Tượng- Võng tìm ra. Hoàng đế nói: Lạ thay, chỉ có Tượng Võng mới tìm ra được ngọc Huyền- châu sao!"
Tượng- Võng là cái "có hình mà thực ra không có hình" tức là ám chỉ cái" Tâm hư không" trừu tượng siêu hình.
Cũng không thể dùng đến sách vở kinh điển mà tìm được Đạo, vì theo Trang tử, đó cũng chỉ là những" cặn bã của cá nhân" (11) mà thôi.
Lý luận, biện thuyết đều vô ích cả, nó chỉ làm cho lòng ta thêm tăm tối, cho thần minh mờ ám.
" Nhiễm Cầu hỏi Trọng Ni:
Có thể nào biết được cái có trước Trời Đất không?
Trọng Ni nói: Được! Xưa cũng như bây giờ (12)
Nhiễm Cầu rút lui, không hỏi nữa.
Qua ngày hôm sau, lại ra mắt mà rằng:
Hôm trước tôi hỏi: có thể nào biết được cái có trước Trời Đất chăng? Thì thầy dạy rằng: Được. Xưa cũng như nay. Trước kia, tôi tưởng là tôi đã hiểu, nhưng hôm nay thì lại cảm thấy mù mịt. Dám xin hỏi ý Thầy nói như thế nào?
Trọng Ni nói: Hôm trước ngươi hiểu rõ là vì đã dùng đến cái thần minh mà nghe. Nay lại cảm thấy mịt mù là vì đã dùng đến cái không phải thần minh mà cầu hiểu. (Trí Bắc Du)
Cái mà Trang tử gọi" Thần" là ám chỉ cái khiếu biết tự nhiên (một thứ trực giác phát tự cái tâm" hư") , cho nên mới hiểu rõ liền. Về sau, vì dùng cái lý luận giả tạo chấp nối của lý trí, nên lòng thông cảm tự nhiên của trực giác mờ đi. " Học giả, học kỳ sở bất năng học (…) ; biện giả, biện kỳ sở bất năng biện" (13) . Cái học mà Trang tử khuyên ta là" cái học mà không sao học được"; còn có biện luận thì" hãy biện luận cái không sao biện luận được". Đó là cái học về thuần túy siêu hình, một thứ Tâm- học hoàn toàn.
Cho nên chỉ có thực hiện được cái đời sống tâm linh của ta, là mục đích tối cao của đời sống con người. Trong sách Trang tử dẫy đầy những câu chuyện" thần- hóa" ấy.
" Nhan Thành Tử- Du nói với Nam- Quách Tử- Kỳ:
Từ ngày tôi nghe lời dạy của Thầy được một năm, thì tôi thấy lòng tôi trở về mộc mạc đơn thuần; được hai năm, thì chạy theo Đạo; được ba năm, thì thông lẽ Đạo; được bốn năm, thì thấy tôi như một vật ngoại; được năm năm, thì tiến đến mực; được sáu năm, thì thấy dường như có thần minh nhập thể; được bảy năm, thì được thần hóa (thiên thành) ; được tám năm, thì không biết mình còn sống hay chết; được chín năm, thì đã đến chỗ Đại Huyền- diệu" (Ngụ Ngôn) .
Đó là những giai đoạn phải trải qua để đi đến một cuộc "thần hóa" hoàn toàn.
Một đoạn khác ở thiên Đại- Tông- Sư lại nói rõ ràng hơn:
" Ba ngày, thì bỏ được việc thiên hạ ra ngoài; (…) bảy ngày, thì bỏ được sự thấy có ngoại vật bên ngoài; (…) chín ngày, thì bỏ được cái sống của mình ra ngoài (14) . Bỏ được cái sống của mình ra ngoài thì mới được" triêu triệt" (15) . " Triêu triệt" rồi, mới nhận thấy được cái Một. Thấy được cái Một rồi, mới không còn thấy có Xưa có Nay. Không còn thấy có Xưa có Nay rồi, mới vào được cõi không chết không sống."
Cái trạng thái" hốt nhiên, đắc ngộ" ấy, có khi chỉ nhờ một lời nói mà được:" nhứt ngôi nhi năng ngộ" (16) . Công phu dự bị thì lâu dài trong Vô thức, nhưng lúc" đắc ngộ" thì thật là mau lẹ như chớp nhoáng và làm biến đổi hẳn tâm thần trí não con người.
" Nhan Hồi nói: Khi chưa thần hóa, thì rõ là có Hồi thật. Nhưng khi đã được thần hóa rồi, thì thấy chưa hề có Hồi. Có thể gọi đó là" hư" chưa? (Nhơn- Gian- Thế) .
Cái thời kỳ" đắc ngộ" thì mau lẹ như thế, nhưng cần phải có một thời kỳ chuẩn bị, tức là tu luyện. Thời kỳ ấy, Trang tử gọi là" tâm trai", tức là sự chay tịnh của lòng.
ở thiên Nhơn- Gian- Thế, Trang tử miêu tả rất rõ lẽ ấy:
Hồi nói: Dám xin hỏi thế nào là" chay tịnh của lòng?"
Trọng Ni đáp: Hãy chuyên tâm nhất chí. đừng nghe bằng tai, mà nghe bằng lòng. Đừng nghe bằng lòng, mà nghe bằng khí. Điều gì mình nghe, thì hãy để nó ở ngoài tai, còn lòng thì hợp nhất nó lại. Thần khí phải hư, hư mới nhận được Đạo; hư tức là" chay lòng" đấy!"
Đó là cả một chương trình" chay tịnh": từ bỏ tất cả ngoại vật, sống giản dị, làm cho tâm trí đồng nhất với mọi sự mọi vật, " chuyên tâm bão nhất" cho lòng được trống không hư tịnh, không còn bị ảnh hưởng gì của vật ngoài nữa cả. Như vậy mới mong đạt đến trạng thái huyền- đồng với chân thế tuyệt đối của mình. Cốt yếu là để cho lòng đạt đến" chân không" mới mong thần hóa được (17) .
Và, nhân thế mà phần đông những kẻ theo về với Đạo- học, bao giờ cũng khởi đầu bằng cách lánh xa cuộc sống phồn hoa xã hội, thích ở những nơi tịch- mịch thiên nhiên:
" Khổng- tử bèn từ biệt bè bạn, từ bỏ học trò, trốn vào chẩm lớn, mặc áo cừu, áo vải, ăn hạt gắm, hạt dẻ. Chen vào đám muông mà không làm lọan đàn, chen vào đám chim mà không làm lọan hàng (tức là hòa đồng với vạn vật) . Chim muông còn không ghét bỏ, huống chi la con người (Sơn- Mộc) .
Tuy nhiên, lánh đời có khi cũng chưa đủ để gọi là thoát được khỏi ảnh hưởng của đời. ở trong đời mà không để cho thân tâm lụy vì đời, mới thật là người làm chủ được hoàn cảnh, mới thật là người tự do. Sự thản nhiên dứt bỏ đối với thế sự khởi nơi lòng giác ngộ của mình trước nhất: đâu cần phải xa lánh cuộc đời mới dứt được lòng nô lệ quyến luyến.
ở thiên ứng- Đế- Vương, Trang tử có nói:" (…) Liệt- tử ba năm không ra ngoài. ở nhà nấu cơm cho vợ, nuôi heo cung kính như nuôi người, và không thiết đến việc gì nữa cả (để mà tiêu diệt cái lòng tự kiêu tự ái của mình đi) . Phá bỏ tất cả mọi trang sức giả tạo để cho tấm lòng trở về cõi thuần phác tự nhiên. Thành như cục đất, giữa cảnh náo nhiệt mà lòng vẫn không náo động. Như thế đến trọn đời mình…"
Trong con đường" huyền học", giai đoạn" tâm trai" nầy là khó khăn gay go nhất vì mình phải chịu đựng một cuộc tranh chấp khổng lồ ở nội tâm giữa cái" ta xã hội" và cái" Chân thế" của ta, nghĩa là giữa cái mà Trang tử gọi là Thiên và Nhơn (Trời và người) .
Cắt nghĩa chữ Thiên và Nhơn, Trang tử có nói:" Bò ngựa bốn chân, đó là Trời (Thiên) (18) . Khớp đầu ngựa, xỏ mũi trâu, đó là người (Nhơn) (19) (…) đừng lấy người mà giết trời (…) Giữ cẩn thận, đừng để mất thiên chân, thế gọi là trở về cái Chân của mình." (Thu- Thủy)
Nhơn, tức là nhơn- tạo, là ám chỉ những ước lệ giả tạo của xã hội để ràng buộc con người vào một khuôn khổ, tức là những cái mà Khổng- học gọi là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín… luân- lý, Đạo đức, pháp độ, dù rất có lợi cho con người trong giai đoạn" tri thị phi, tri thiện ác", nó trở lại thành một chướng ngại vật cho giai đọan giải thóat", tức là giai đoạn" vong thị phi, vong thiện ác", giai đoạn mà " Chân thế" đã đến lúc trưởng thành, đủ sức" tự sinh, tự hóa.’ Vì thế Trang tử mới có nói:" Tri vong thị phi, tâm chi thích dã". biết quên sự phải quấy, đó là cái tâm của mình thông suốt rồi vậy. Bảo rằng: biết quên, tức là phải có biết, rồi sau mới vượt lên sự hiểu biết mà quên đi. Muốn giải thoát, con người trước hết phải trải qua giai đoạn nhận thức rõ ràng cái Bản ngã của mình: không bao giờ đi đến giải thoát mà chưa từng nhận thức và sống trong Bản Ngã một cách sâu xa. Bản ngã là nguồn gốc của đau khổ, vì nó cố gắng sống riêng ngoài cái Sống- một cuả tâm hồn. Nhưng bản tánh của nó là "hữu- thức", vì có " hữu thức" mới có thể chia phân. Hữu thức phải đến trình độ cùng cực của nó, mới có thể đi vào cái Sống của Vô thức. Bản ngã là Âm, hễ Âm cực mới Dượng sinh. Dương là ám chỉ cái Chân thế của mình. Như trên đã nói: Bản ngã là nguồn gốc của đau khổ. Muốn đi đén trạng thái Vô- thức, phải làm cho tan vỡ cái vỏ bao ngoài, là Bản ngã. Làm tan vỡ nó, sẽ phải đau khổ để mà thoát xác, " phải chết, rồi mới được Phục sinh:, đó là ý nghĩa của câu chuyện Đấng Cứu- Thế (Jésus) phải chịu chết đóng đinh trên cây Thập- giá, để rồi được phục sinh và lên trời. Vì vậy mới có câu khẩu hiệu này của các nhà huyền học Thiên chúa giáo:" chết trên cây thập giá của mình". Triết học Đông phương bảo" vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản", " chết để mà sống lại", đó là điều ám chỉ đến việc làm cho" chết" bản ngã đi, để phục hồi chân tính.
Nhà Đạo học ấn độ hiện đại là J. Krisnamutri cũng có nói rõ ràng hiện trạng ấy:" Tiếng nói của tôi là tiếng nói của sự Hiểu biết thâm sâu, do một sự đau khổ tuyệt vọng mà có"
Bản ngã chưa chín mùi, chưa có thể rụng. đau khổ chưa đến chỗ tuyệt vời, khó mà giác ngộ (20) .
Bản- ngã (cả cái bản ngã xã hội un đúc nó) có thể ví như cái vỏ trứng gà, đối với con gà con đang thời kỳ chưa nở. Cái vỏ bao ngoài là cần thiết cho cái sống của con gà trong khi nó chưa thành hình đầy đủ, nhưng khi con gà con đã đến độ trưởng thành, có thể sống tiếp xúc ngay với ánh sáng và không khí bên ngoài, thì cái vỏ bao ngoài kia lại trở thành một chướng ngại vật mà nó phải phá vỡ ra, vì đó là tất cả vấn đề sanh tử của nó lúc bấy giờ.
Hột lúa chỉ làm xong sứ mạng của nó khi nào nó trở thành cây lúa, nghĩa là để có thể trở thành cây lúa, nó phải" chết" cái đời sống hột giống của nó đi, thì nó mới hoàn thành được sứ mạng của nó.
Bởi vậy, trước đây Trang tử mới có bảo:" Phá bỏ tất cả mọi trang sức giả tạo bên ngoài để cho tấm lòng trở về cõi thuần phác tự nhiên" (ứng- Đế- Vương) . Và" đừng lấy người mà giết Trời" (Thu- Thủy) . Người đây là cái" ta xã hội" tạo thành, còn Trời tức là chân thế.
Nhận rõ được như thế, ta sẽ không lấy gì làm lạ mà thấy rằng suốt bộ Nam- Hoa- Kinh, Trang tử bao giờ cũng cực lực phản đối cái học của Khổng, Mặc, và đề cao thiên nhiên mà đả kích" nhân vi hay nhân tạo". Cái học của Trang tử, cũng như của Lão tử, là cái học giải thóat, tiêu diệt Bản ngã để thực hiện con người " vô kỷ, vô cùng, và vô danh", tức là cái học thuyết về giai đoạn thứ hai trong cuộc thiên diễn của đời người để hoàn thành sứ mạng con người của mình trong Trời Đất:" Ta nay đã mất Bản ngã rồi, ngươi có biết chăng?" (Tề- Vật- Luận) .
Tóm lại, sự chống đối, đả kích của Trang tử chẳng qua là việc làm của" con gà con" đã đến thời kỳ nở: phá vỡ cái vỏ bọc ngoài của quả trứng để giải thoát. chỉ có thế thôi.

***

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Tue Aug 27, 2013 12:58 pm

Đi ra, rồi trở lại, đó là con đường của Đạo mà Lão tử đã nói:" Phản giả, Đạo chi động". Đi ra, là con đường trong giai đoạn đầu để đi đến sự tạo thành một Bản- ngã đầy đủ; đi về, là con đường" phục kỳ bản", " phản kỳ chân", tiêu diệt bản ngã.
Con đường trước là con đường sống chia phân của nội tâm: Tâm Trí, Nhi Ngã, Thị Phi, Thiện ác…
Con đường thứ hai, là con đường" trở về" nguồn Sống Một, con đường hợp nhất lại những gì đã bị chia chẻ…Đó là con đường giải thoát. Hai con đường trên đây trong đời sống của con người là cả hai thế giới riêng biệt và nghịch hẳn nhau. Con đường trước người ta gọi là con đường" tiến" thì con đường sau phải gọi là con đường" thối". Lão tử có nói:" Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tồn…" Từ bên thế giới nầy sang qua thế giới bên kia, nhà Phật gọi là" đáo bỉ ngạn" (đến bờ bên kia) .
Hai thế giới đã khác nhau, thì sự hoạt động tri thức trên những vùng tinh thần ấy cũng phải khác nhau: ở giới nhị nguyên thì phải dùng lý trí, nhưng khi bước chân vào ngưỡng cửa của giới nhất nguyên thì không còn dùng đến dụng cụ tri thức kia, là lý trí được nữa, mà phải dùng đến một năng khiếu đặc biệt khác là trực giác (21) . Trang tử gọi là" đại tri" và nhà Phật gọi là Trí" Bát nhã", hay là Trí- huệ bát nhã.
Như vậy, nhãn quang của người bước qua giai đoạn giải thoát là nhãn quang nghịch hẳn với nhãn quang của người còn sống trong giai đoạn chấp có một cái ta riêng biệt (nhị nguyên) .
Giai đoạn nầy (giai đoạn nhị nguyên) có hai thời kỳ: thời kỳ phôi thai của bản ngã và thời kỳ trưởng thành của bản ngã.
Trong thời kỳ thứ nhất, con người còn sống theo quần đoàn, sống theo tạp quán, theo ảnh hưởng của người chung quanh, chưa có cá tánh đặc biệt. Họ chỉ biết bắt chước và không dám suy nghĩ khác hơn những giáo lý, tôn giáo hay chế độ giáo dục đương thời: họ hoàn toàn là sản phẩm của xã hội chung quanh.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ trưởng thành của bản ngã. Bắt đầu cá nhân có những tư cách chống đối xã hội, không chịu mù quáng thuận theo một cách nô lệ bất cứ một mạng- lệnh nào, một lề lối cựu ước nào của chế độ luân- lý, tôn giáo, xã hội đã qua hoặc đương thời chi phối. Họ có những tư tưởng cách mạng và độc đoán. Vách thành của truyền thống, của tạp tục bắt đầu rạn nứt. Họ dám suy nghĩ theo mình, bắt đầu hoài nghi, và can đảm đem tất cả mọi vấn đề mà đặt lại. Họ không thụ động nữa, trái lại đề cao đến tột độ chủ nghĩa cá nhân đủ mọi phương diện. Họ tìm đủ mọi cách để đề cao đời sống độc lập tinh thần, không chịu tôn thờ một quyền thế vật chất tinh thần nào cả ngoài mình. Độc lập, tân- kỳ, sáng tạo, tự do, đó là bốn đặc điểm của con người tinh thần của họ.
Nhưng, một ngày kia, bản ngã của họ phát triển đến mức cùng tột, họ lại cảm thấy họ bị ràng buộc trong những công trình sáng tạo của họ, nghĩa là họ cảm thấy họ bị nô lệ lấy những giá trị giả tạo mà chính họ đã bày ra. Tất cả những giá trị của xã hội văn minh ngày nay, như những giá trị về luân- lý, đạo đức, văn hóa, xã hội mà họ đã bày ra, phải chăng đều có công dụng là trói buộc họ vào những khuôn khổ quá chật hẹp của một ảo vọng đầu tiên vô cùng quan trọng: Bản ngã. Bấy giờ, họ bắt đầu đi qua giai đoạn thứ ba, là vượt lên trên cái Bản ngã ảo tưởng ấy, tức là họ bước qua con đường Giải thoát.
Giai đoạn nầy không phải là giai đoạn đi đến sự thực hiện siêu nhân, mà để thực hiện trạng thái tự nhiên của một con người " viên mãn", một con người " vô ngã", hay nói theo Trang tử, con người" chân- nhân". Giai đoạn này " phản" lại giai đoạn trên: Cách nhận thức, suy luận đều nghịch hẳn với những cách nhận thức, suy luận nhị nguyên như trong giai đoạn trước. Cách lập ngôn vì thế cũng khác hẳn. Cũng như bên Thiền- tông Phật giáo, người ta dùng đến phép lập ngôn vô cùng đặc biệt nầy là hay nói ngược lại tất cả những lối suy nghĩ thông thường để mà phá tan cái" tập niệm nhị nguyên". Phải có trải qua một cuộc đại cách mạng tư tưởng, xáo trộn và lật ngược tất cả mọi vấn đề thường thức trong đời, mới mong" phá tan" được cái ác- tập suy nghĩ theo nhị nguyên, mới nhận rõ được cái Chân- tướng của sự vật.
Như vậy, phần đông người ta, nếu sở dĩ còn trách cái giọng văn" khinh thế ngạo vật" của nhóm Trang học, cho rằng lời văn nhiều khi trịch thượng và quá bạo, không có vẻ dịu dàng hòa nhã và khiêm tốn đối với tư tưởng của Nho Mặc, đại diện tư tưởng nhị nguyên, là vì người ta chưa ý thức được phép lập ngôn của các nhà Đạo học Đông phương, của Lão Trang và nhất là của Thiền- tông, thường vụ lấy chỗ làm cho thức tỉnh, chứ không còn phải vụ lấy sự ru- ngủ cái bản ngã của con người nữa. Sự va chạm nặng nề đối với thành kiến là một trong những phương pháp để giúp cho người dễ tỉnh ngộ.
***

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Wed Aug 28, 2013 4:30 pm

Tóm lại, ba mươi ba thiên của sách Trang tử, tuy nghĩa lý sâu rộng, nhưng chỉ có sáu thiên đầu, là Tiêu- Diêu- Du, Tề- Vật- Luận, Dưỡng- Sinh- Chủ, Đức- Sung- Phù, Đại- Tông- Sư và ứng- Đế- Vương của Nội thiên là bao quát được tất cả yếu chỉ của toàn thể bộ sách. Các thiên chương trong Ngoại và Tạp- thiên rất có thể có một số ít do tay Trang tử viết ra, kỳ dư đều do các bậc hậu học của phái Lão Trang thuật lại để diễn đạt thêm cái đại nghĩa của sáu thiên đầu.
Tiêu- Diêu- Du thì bàn về tự do tuyệt đối; còn Tề- Vật- Luận thì nói về bình đẳng tuyệt đối. Thật ra thì chỉ có hai thiên nầy là nền tảng của cả học thuyết Trang tử mà thôi. Các thiên khác trong Nội thiên cũng đều là những ý tưởng phụ thuộc dùng để diễn đạt cái đại ý của hai thiên nầy mà thôi.
Chú thích:
(1) Tự là Tứ- Huyền (mất vào khoảng 312 TL Kỷ- nguyên) .
(2) đắc Nhất
(3) Chứ không phải của mình thụ lãnh nơi xã hội, luân lý, chế độ, nơi văn minh giả tạo của con người bày ra.
(4) Thiên- trạch là chọn lọc thiên nhiên, thuyết của Darwin trong bộ" Vật chủng Nguyên thủy"
(5) Tiến- Hoá là một sự Biến, một sự Động- và thêm vào một thực trạng ấy là một ý kiến chủ quan là đi theo một khuynh hướng nào.
(6) Đức Sung Phù có câu:" Sanh tử, tồn vong, cùng đạt, bần phú, hiền dữ bất tiếu, hủy dự cơ khát, hán thử: thì sự vi biến, mạng chi hình dã. Nhật dạ tương đại hồ tiền, nhi tri bất năng giai hồ kỳ thủy giả dã ". (Chết sống, còn hết, cùng đạt, nghèo giàu, hiền và bất tiếu, chê khen, đói khát, nóng lạnh: đó là cái biến của vật, cái chuyển của Mạng. Ngày đêm thay phiên tiếp nối trước mặt ta mà trí thông minh của ta không sao nhận thấy được đâu là chỗ khởi đầu. "
(7) thích nhơn chi thích, nhi bất tự thích kỳ thích dã: chạy theo cáo thích của người mà không tự mình chạy theo cái thích của mình.
(Cool Thương sinh: làm tổn hại đến sinh mạng.
(9) Tri bất tri, thượng: biết cái không thể biết được (" bất khả trí") , tức là Đạo. (Đạo- Đức- Kinh) .
(10) Đồng với Đạo, nên không còn tham muốn nữa.
(11) Trang- tử: Thiên Thiên Đạo (cổ nhơn chi tao phách)
(12) Cổ du kim dã: cái xưa, thì cũng như cái bây giờ (ám chỉ Đạo vĩnh viễn, bất biến… có từ vị thủy và hiện nay cũng không thay đổi) , người Pháp gọi là" Présent Eternel Immuàble".
(13) Canh Tang Sở.
(14) Nghĩa là không còn biết có mình nữa.
(15) Triêu- triệt: một sự thông hiểu thấu triệt sự vật như ánh sáng buổi ban mai, tức là một thứ" trực quan kiến độc", nhận thấy được cái Chân Thế (Sống Một) .
(16) Liệt- tử, thiên Lực- Mạng.
(17) Xem cái Dũng của thánh nhân (cùng một tác giả) phép tĩnh tọa của Cương- Điền (Phụ- Lục) .
(18) Thiên: thiên nhiên
(19) Nhơn: nhơn tạo, là của người bày ra.
(20) Dịch- kinh:" vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản" và Liệt tử ở thiên Trọng Ni cũng nói:" vật bất cai giả, tắc bất phản". Vật mà không đến mức cùng của nó thì không biến trở lại. Hai câu cùng đồng một ý nghĩa. Muốn" trở về" (phản) phải để cho bản ngã phát triển đến cực độ của nó, thì nó mới" phản biến" mà mất đi (âm cực Dương sinh ở quẻ Phục) .

(21) Trực giác: là dùng theo danh từ ngày nay, nó không phải là một thứ giác quan như người ta thường gọi là " giác quan thứ sáu", hay thứ trực giác theo Bergson. Thứ trực giác theo Bergson cũng chỉ họat động trong" dòng" sắc tướng (nói theo danh từ nhà Phật) chưa thật là cái trực giác của Đại- tri, của Bát- Nhã.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: HỌC THUYẾT CỦA TRANG TỬ 2   Thu Aug 29, 2013 4:31 pm

Trang Tử
NAM HOA KINH

Dịch và bình chú : Thu Giang Nguyễn Duy Cần
HỌC THUYẾT CỦA TRANG TỬ 2
A. Bắc minh(1) hữu ngư, kỳ danh vi Côn(2). Côn chi đại, bất tri kỳ kỷ thiên lý dã. Hóa nhi vi điểu, kỳ danh vi Bằng(3). Bằng chi bối, bất tri kỳ kỷ thiên lý dã. Nộ nhi phi, kỳ dực nhược thùy thiên chi vân. Thị điểu dã, hải vận tắc tương tỷ ư Nam minh. Nam minh giả, thiên trì dã. Tề Hài(4) giả, chí quái giả dã. Hài chi ngôn viết: Bằng chi tỷ ư Nam Minh dã, thủy kích tam thiên lý, đoàn phù diêu(5) nhi thượng giả cửu vạn lý, khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã.
Dã mã(6) dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ tức tương xuy dã. Thiên chi thương thương, kỳ chính sắc da, kỳ viễn nhi vô sở chí cực da? Kỳ thị hạ dã, diệc nhược thị tắc dĩ hĩ.
Thả phù thuỷ chi tích dã bất hậu, tắc phụ đại châu dã vô lực. Phúc bôi thủy ư ao đường chi thượng, tắc giới vi chi châu, trí bôi yên tắc giao, thủy thiển nhi châu đại dã. Phong chi tích dã bất hậu, tắc kỳ phụ đại dực dã vô lực, cố cửu vạn lý, tắc phong tư tại hạ hĩ, nhi hậu nãi kim bồi(7) phong, bồi phụ thanh thiên, nhi mạc chi yểu ứ(Cool giả, nhi hậu nãi kim tương đồ Nam.
Điêu (9) dữ học cưu(10) tiếu chi viết: Ngã quyết khởi nhi phi thương du phương, thời tắc bất chí, nhị khống ư địa nhi dĩ hĩ. Hề dĩ chi cửu vạn lý nhi nam vi. thích mảng thương(11) giả, tam xan nhi phản, phúc du quả nhiên. Thích bách lý giả, túc thung lương. Thích thiên lý giả, tam nguyệt tụ lương.
Chi nhị trùng, hựu hà tri?
Tiểu trí bất cập đại trí.
Tiểu niên bất cập đại niên.
Hề dĩ tri kỳ nhiên dã?
Triêu khuẩn(12) bất tri hối sóc(13) huệ cô(14) bất tri xuân thu. Thử tiểu niên dã. Sở chi nam hữu minh linh(15) giả, dĩ ngũ bách tuế vi xuân, ngũ bách tuế vĩ thu. Thượng cổ hữu đại xuân(16) giả, dĩ bát thiên tuế vi xuân, bát thiên tuế vi thu. (Thử đại niên dã). Nhi Bành tổ(17) nãi kim dĩ cửu đặc văn, chúng nhơn thất chi, bất diệc bi hồ!
***
Chú thích:
(1) Bắc minh, cũng viết là bắc hải: biển Bắc.
(2) Côn: gốc là tên một thứ cá nhỏ, nhưng Trang- tử lại dùng để chỉ một thứ cá hết sức lớn.
(3) Bằng: gốc là tên loài chim phụng, Trang- tử lại dùng để chỉ một thứ chim rất lớn.
(4) Tề- Hài: Tên của một quyển sách, chép những việc kỳ quái.
(5) Dã mã: là một thứ hơi đất ngoài đồng ruộng. Theo Thích Văn: mùa xuân, hơi nước trên mặt ao đầm. Trên cao nhìn xuống, thấy như bầy ngựa rừng, nên gọi là dã- mã. Trần ai: Trần, là bụi đất; Ai, là bụi nhỏ.
(6) Phù dao(diêu): một thứ gió rất mạnh từ dưới hốt lên trên không trung(gió trốt).
(7) Bồi: cũng đọc là bằng. Bằng, tức là cỡi lên. Chim Bằng ở trên lớp gió lớn kia, nên gọi là cỡi gió(bằng phong).
(Cool Yểu ứ: yểu là gãy; ứ là dừng lại, ngăn lại. Yếu ứ tức là trở ngại.
(9) Điêu là con ve(thiền) hay là ve núi.
(10) Học cưu: Theo Tư- Mã- Bưu là một thứ chim nhỏ, nhỏ hơn con chim cưu
(11) Mãng thương: cánh đồng kề cận.
(12) Triêu khuẩn: một thứ nấm sớm nở chiều tàn.
(13) Hồi sóc: sóc, là ngày đầu tháng; hối, là ngày cuối tháng. ở đây hồi là buổi tối, sóc là buổi mai.
(14) Huệ cô: là con ve trên núi mùa xuân sanh ra, mùa hạ chết, mùa hạ sinh ra, mùa thu chết.
(15) Minh linh: tên một thứ cây mọc ở Giang Nam(Từ- Nguyên). Bản của Nhượng Tông lại dịch là" giống rùa Minh- linh" là sai.
(16) Đại- Xuân: tên một thứ cây mọc ở Giang- Nam.

(17) Tương truyền Bành tổ, tên là Khanh, tôi của vua Nghiêu, sống từ đời Ngu- Hạ, đến đời Thương, và thọ 700 năm.


DỊCH NGHĨA:
TIÊU- DIÊU- DU
A. Tại biển Bắc có con cá Côn, lớn không biết mấy nghìn dặm. Cá này hóa ra chim Bằng: lưng của chim Bằng lớn cũng không biết mấy nghìn dặm. Vỗ cánh mà bay, cánh nó sè ra như mây che rợp một phương trời. Biển động, Bằng bèn bay sang biển Nam: biển Nam là Ao- Trời.
Tề Hải, sách chép các việc kỳ quái nói: chim Bằng, lúc bay qua biển Nam, cánh đập làm cho sóng nước nổi lên ba nghìn dặm dài; nó nương theo gió trốt mà cất lên chín muôn dặm cao, và bay luôn sáu tháng mới nghỉ.
Cái mà ta thấy trên không kia có phải là bầy" ngựa rừng" chăng, hay là bụi trần? Hay là cái hơi thở của muôn vật nổi lên? Còn màu trời xanh xanh kia có phải là màu thật của nó không, hay chỉ là màu của vô cùng thăm thẳm? Thì cái thấy của con chim Bằng bay trên mây xanh dòm xuống dưới đây cũng chỉ như thế mà thôi.
Vả lại, nước không sâu thì không sức chở thuyền lớn. đổ một chung nước nhỏ vô một cái hủng nhỏ trong nhà, lấy một cọng cỏ thả lên làm thuyền, thì thuyền tự nổi; nếu lại lấy cái chung ấy làm thuyền mà thả lên, thì thuyền phải trịt. Là tại sao? trị nước không sâu mà thuyền thì lớn. Cũng như lớp gió không dầy thì không đủ sức chở nổi cánh lớn của chim Bằng. Bởi vậy chim Bằng khi bay lên chín muôn dặm cao là cỡi lên lớp gió ở dưới nó. Chừng ấy, lưng vác trời xanh, không gì ngăn trở, nó bay thẳng qua Nam.

***
Một con ve và một con chim cưu nhỏ thấy vậy, cười nói:" Ta quyết bay vụt lên cây du, cây phương. Như bay không tới mà có rơi xuống đất thì thôi, chứ không sao! Bay cao chín muôn dặm, sang qua Nam mà làm gì? Ta thích bay đến mấy cánh đồng gần đây, ăn ba miếng no bụng, rồi về. Nếu ta đến chỗ xa trăm dặm, thì ta có lương thực mỗi ngày. Còn nếu ta đến chỗ xa nghìn dặm, thì ta có ba tháng lương thực."

***
Hai con vật ấy, mà biết gì?
Kẻ tiểu trí sao kịp người đại trí. Kẻ tuổi nhỏ sao kịp người tuổi lớn.

Sao mà biết được thế? nấm mai biết gì được hồi sóc, ve sầu biết sao được xuân, thu! Đó đều là hạng tuổi nhỏ cả. Phương Nam nước Sở có cây minh- linh, sống một xuân là năm trăm năm ; một thu là năm trăm năm. Thượng cổ có cây đại- xuân sống một xuân là tám nghìn năm, một thu là tám nghìn năm.(đó là hạng tuổi lớn). Lâu nay từng nghe danh sống lâu của Bành tổ. Hễ nói đến sống lâu, thì người đời thường đem đó mà so sánh, như thế không đáng buồn sao?

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 30, 2013 1:03 pm

B. Thang chi vấn Cấc dã thị dĩ. Cùng phát chi bắc, hữu minh hải giả, thiên trì dã. Hữu ngư yên, kỳ quảng sổ thiên lý, vị hữu tri kỳ tu giả, kỳ danh vi Côn. Hữu điểu yên, kỳ danh vi Bằng, bối nhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân, đoàn phù diêu dương giác nhi thượng giả cửu vạn lý, tuyệt vân khí, phụ thanh thiên, nhiên hậu đồ Nam thả thích Nam minh dã. Xích yển[ii] tiếu chi viết: Bỉ thả hề thích dã. Ngã đằng dược nhi thượng bất quá sổ nhẫn chi hạ, ngao tường bồng hao chi gian, thử diệc phi chi chí dã. Nhi bỉ thả hề thích dã. Thử tiểu đại chi biện[iii] dã.
 
DỊCH NGHĨA:
B. Lời ông Thang hỏi ông Cấc, cũng thế. Miền Bắc hoang lạnh có cái biển gọi là Minh- hải, tức là Ao Trời. Có con cá lớn tới mấy nghìn dặm, chưa ai biết nó dài đến bao nhiêu, tên là Côn. Có con chim, tên là Bằng, lưng như núi Thái, cánh tợ vừng mây che một phương trời. Chim nầy theo gió trốt cuộn như sừng dê mà lên chín muôn dặm cao, tuyệt bóng mây- mù, đội trời xanh biếc, bấy giờ nó mới bay về biển Nam. Một con chim ở hồ nhỏ cười nói: đó bay chi cao xa lắm vậy? Ta bay nhảy bất quá vài chục thước cao, ngao du trong đám cỏ bồng cỏ hao. Bay đến thế cũng là đúng mực lắm rồi. Còn đó bay chi cao xa lắm vậy?
Đó là chỗ phân biệt giữa lớn và nhỏ.
 
C. Cố phù trí hiệu nhất quan, hạnh tỉ nhất hương, đức hợp nhất quân năng trưng[iv] nhất quốc giả, kỳ tự thị dã, diệc nhược thử hĩ. Nhi Tống Vinh tử du nhiên tiếu chi, nhi bất gia khuyến, cử thế nhi phi chi, nhi bất gia thư, định hồ nội ngoại chi phận[v], biện hồ vinh nhục chi cảnh[vi], tư dĩ hĩ. Bỉ kỳ ư thế, vị sát sát nhiên dã, tuy nhiên du hữu vị thọ[vii] dã.
Phù Liệt tử[viii] ngự phong nhi hành lãnh nhiên[ix] thiện dã, tuần hữu ngũ nhật nhi hậu phản. Bỉ ư trí phúc[x] giả, vị sát sát nhiên dã. Thử tuy miễn hò hành du hữu sở đãi giả dã[xi].
Nhược phù thừa thiên địa chi chánh nhi ngự lục khí chi biến[xii], dĩ du vô cùng giả, bỉ thả ô hồ đãi tai. Cố viết: chí nhơn vô kỷ, thần nhơn vô công, thánh nhơn vô danh[xiii].
 
DỊCH NGHĨA:
C. Cho nên, kẻ có tài trí đủ làm nổi một tước quan, hanh hơn cả một làng, (thì) đức (sẽ) không khác nào một vị vua được lòng tin của cả nước, (nếu biết) tự xem như đấng làm vua kia vậy.
Nhưng Vinh- tử nước Tống lại còn cười chê đó. Vả, đời có khen cũng không khích lệ, mà đời có chê cũng không ngăn đón được: họ đã định rõ cái phận của trong ngoài, phân biệt cái cảnh của vinh nhục rồi đấy. Trong đời, hạng người như thế cũng dễ thường thấy có. Tuy vậy, đức của họ cũng chưa được vững.
Liệt- tử cưỡi gió mà đi, đi một cách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và người như ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi phải đi, nhưng còn chỗ phải chờ.

Đến như thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục khí mà dong chơi trong cõi vô cùng: thì đó đâu còn phải chờ đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng: bậc chí nhơn không thấy có mình, bậc thần nhơn không nhớ đến công mình, bậc thánh nhơn không nghĩ đến tên mình.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Tri Âm Quán
Thành Viên Tích Cực
Thành Viên Tích Cực
avatar

Tổng số bài gửi : 5862
Reputation : 2
Join date : 31/07/2013
Đến từ : Thị Trấn Chũ

Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   Fri Aug 30, 2013 1:13 pm

D. Nghiêu nhượng thiên hạ ư Hứa Do, viết: Nhật Nguyệt xuất hĩ, nhi tước hỏa[xiv] bất tức, kỳ ư quang dã bất diệc nan hồ? Thời vũ giáng hĩ nhi du tẩm quán, kỳ ư trạch dã bất diệc lao hồ? Phu tử lập nhi thiên hạ trị, nhi ngã du thi[xv] chi, ngô tự thị khuyết nhiên. Thỉnh trí thiên hạ.
Hứa Do viết: Tử trị thiên hạ, thiên hạ ký dĩ trị dã, nhi ngã du đại[xvi] tử, ngô tương vi danh hồ? Danh giả, thật chi tân dã. Ngô tương vi tân hồ? Tiêu liêu[xvii] sào ư thâm lâm, bất quá nhất chi. Yển thử[xviii] ẩm hà, bất quá mãn phúc. Quy hưu hồ quân. Dư vô sở dụng thiên hạ vi. Bào nhơn tuy bất trị bào, thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ.
 
DỊCH NGHĨA:
D.Vua Nghiêu muốn nhường thiên hạ cho Hứa- Do, nói: Mặt trời mặt trăng đã mọc, mà không dụt đuốc, nhìn bóng đuốc há chẳng khó coi lắm sao? Mưa mùa đã đổ xuống, mà còn đi tưới nước, thế là chẳng lao công vô ích hay sao? Nay nếu phu tử lên ngôi, thiên hạ ắt được trị. Tôi còn ngồi làm thần tượng chi nữa. Tôi tự thấy rất kém. Vậy, xin mời ngài lên trị thiên hạ.
Hứa Do nói: Ngài trị thiên hạ, thì thiên hạ được trị. Tôi còn thế Ngài làm chi, tôi cầu danh hay sao? Danh là khách của Thật. Tôi muốn làm khách sao? Chim tiêu liêu đậu ở rừng sâu, chẳng qua một nhánh là vừa. Chuột đồng xuống nước sông dài, chẳng qua đầy bụng là đủ. Xin trả lại cho ngài đó. Thiên hạ ấy, tôi không dùng làm gì cả. Người đầu bếp dù không xong việc bếp, người chủ tế cũng không vượt phận mà thế cho đó được.
 
E. Kiên Ngô vấn ư Liên Thúc viết: Ngô văn ngôn ư Tiếp Dư đại nhi vô đương[xix], vãng nhi bất phản. Ngô kinh bố[xx] kỳ ngôn, du Hà Hán nhi vô cực dã, đại hữu kính thính[xxi] bất cận nhơn tình yên. Liên Thúc viết:" kỳ ngôn vị hà tai". Viết: Diễu Cô Xạ chi sơn, hữu thần nhơn cư yên, cơ phu nhược băng tuyết, náo ước[xxii] nhược xử nữ[xxiii] bất thực ngũ cốc, hấp phong ẩm lộ, thừa vân khí, ngự phi long nhi du hồ, tứ hải chi ngoại, kỳ thần ngưng, sử vật bất tì lệ, nhi niên cốc thục. Ngô dĩ thị cuồng nhi bất tín dã.
Liên Thúc viết: Nhiên. Cổ giả vô dĩ hồ văn chương chi quan, lung giả vô dĩ dữ hồ chung cổ chi thinh. Khởi duy hình hài hữu lung manh tai, phù tri diệc hữu chi, thị kỳ ngôn dã, du thời nhữ[xxiv] dã. Chi nhơn dã, chi đức dã, tương bang bạc vạn vật dĩ vi nhất, thế ky hồ loạn, thục tệ tệ yên dĩ thiên hạ vi sự. Chi nhơn dã, vật mạc chi thương. đại tẩm khể thiên nhi bất nịch. đại hạn, kim thạch lưu, thổ sơn tiêu, nhi bất nhiệt. thị, kỳ trấn cấu tỉ khương[xxv] tương du đào chú Nghiêu Thuấn giả dã. Thục khẳng dĩ vật vi sự!
Tống nhơn tư chương phủ nhi thích chư Việt. Việt nhơn đoạn phát văn thân, vô sở dụng chi. Nghiêu tự thiên hạ chi dân, bình hải nội chi chánh, vãng kiến tứ tử Diễu Cô Tạ chi sơn phần thủy chi dương, yểu nhiên[xxvi] táng kỳ thiên hạ yên."
 
DỊCH NGHĨA:
E. Kiến Ngô nói với Liên- Thúc: Tôi nghe Tiếp Dư nói chuyện lớn lác không tưởng, có lối đi mà không có lối về… khiến tôi kinh sợ, ông nói như sông Hà sông Hán không cùng tận, rất là xa xôi, không cận với nhân- tình…Liên Thúc hỏi:" Nối những gì?"- " Nói rằng trên núi Diễu- Cô Tạ có thần nhơn ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa. Tôi cho đó là lời nói cuồng, nên không tin."
Liên Thúc nói:" Phải! Kẻ đui lấy gì để xem thấy được cái đẹp của văn- hoa: kẻ điếc lấy gì để nghe được tiếng chuông tiếng trống. Há chỉ có hình hài mới có đui điếc đâutrí cũng có đui điếc. Theo lời nói ấy thì ngươi nay cũng thế. Kể như người ấy, đức ấy cùng vạn vật hỗ chụy đi làm cái việc của thiên hạ. Người ấy không vật nào hại đặng. Nước cả đụng trời mà không làm họ chết chìm được, nắng cả chảy mềm sắt đá, cháy núi thiêu đất cũng không làm cho họ chết nóng được. Đồ bụi bặm. Cặn bã của thần nhơn ấy cũng đúc thành được hạng người của Nghiêu Thuấn. Ai đâu lại khứng đi làm công việc cho ngoại vật!
Người nước Tống buôn mũ Chương phủ, sang nước Việt. Người nước Việt thì cắt tóc ngắn và xăm mình, không dùng mũ ấy làm gì. Nghiêu trị trăm họ trong thiên hạ, bình trị được trong nước, bèn sang qua núi Diễu- Cô Tạ để ra mắt bốn Thầy. Họ có cái vẻ sâu xa làm sao mà Nghiêu Thuấn quên mất thiên hạ của mình.
 
G. Huệ- tử vị Trang tử viết: Ngụy vương di ngã đại hố chi chủng, ngã thọ chi thành, nhi thật ngũ thạch. dĩ thạnh thủy tương, kỳ kiên bất năng tự cử dã. Phẫu chi dĩ vi biều, tắc hồ lạc vô sở dung. Phi bất hiêu nhiên đại dã. Ngô vi kỳ vô dụng nhi phẫu chi. Trang tử viết: Phu tử cố chuyết ư dụng đại hĩ. Tống nhơn hữu thiện vi bất quy thủ[xxvii] chi dược giả, thế thế dĩ bình tích khoáng vi sự. Khách văn chi, thỉnh mãi kỳ phương bách kim. Tụ tộc nhi mưu viết: ngã thế thế vi bình tích khoáng bất quá sổ kim, kim nhất triêu nhi chúc kỹ bách kim, thỉnh dữ chi."
Khách đắc chi, dĩ thuyết Ngô vương. Việt hữu nạn, Ngô vương sử chi tướng… Đông dữ Việt nhơn thủy chiến, đại bại Việt nhơn, liệt địa nhi phong chí.
Năng bất quy thủ nhất dã. Hoặc dĩ phong, hoặc bất nhiên ư bình tích khoáng, tắc sở dung chi dị dã. Kim tử hữu ngũ thạch chi hồ, hà bất lự dĩ vi đại tôn nhi phù hồ lạc vô sở dung. Tắc phu tử du hữu bồng[xxviii] chi tâm dã phù.
 
G. Huệ- tử gọi Trang tử, nói: Ngụy vương tặng tôi một giống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng đến năm thạch. Dùng nó đựng nước, nó nặng, không cất nhắc được. Bổ nó ra làm cái bầu, thì lại không còn dùng được chỗ nào. Đâu phải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô dụng nên tôi đập bỏ nó.
Trang tử nói: Thế là phu tử vụng về chỗ đại dụng nó. Nước Tống có người khéo chế được môn thuốc chữa răn nứt da tay, đời đời chuyên làm nghề ươm tơ. Có người hay biết, đến xin mua phương thuốc đó một trăm lượng vàng. Anh ta bèn nhóm thân- tộc bàn rằng:" Nhà ta đời đời làm nghề ươm tơ, lợi không hơn số vàng đó. Nay một mai mà được trăm vàng, xin để cho bán."
Người khách được phương thuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước Việt có nạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa đông, thủy chiến với người Việt, người Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt đất mà phong thưởng anh ta.
Cũng thời cùng một phương thuốc trị răn nứt da tay mà một người được thưởng phong, một người không ra khỏi cái nghề ươm tơ: đó là tại chỗ biết dùng mà khác nhau vậy.

Nay phu tử có trái dưa nặng đến năm thạch, sao không tính dùng nó làm trái nổi thả qua sông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ bầu tan, không có chỗ dùng? Thì ra vì cái lòng của phu tử hẹp hòi chưa thông đạt đó.

_________________________________
Tri Âm Quán_Thị Trấn Chũ_Lục Ngạn_Bắc Giang
http://quoccuonglucngan.blogspot.com/
Về Đầu Trang Go down
http://lucngantriamquan.forumvi.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: ***Trang Tử***   

Về Đầu Trang Go down
 
***Trang Tử***
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tri Âm Quán. Lục Ngạn. Bắc Giang :: Các Đạo Khác-
Chuyển đến